| English | Tiếng Việt |
| The knock at her front door came just as Victoria was about to open it, even though, strangely, she’d heard neither the lift nor anyone on the stairs. | Tiếng gõ cửa vang lên ngay khi Victoria định mở nó ra, dù lạ thay, cô chẳng hề nghe thấy tiếng thang máy hay tiếng bước chân ai trên cầu thang. |
| She balanced on one foot while she put on her other shoe, slipping on piles of unopened bills. She was late to work for the third time this month and now she had a visitor. Great. | Cô đứng co một chân để xỏ chiếc giày còn lại, giẫm lên đống hóa đơn chưa mở. Đây là lần thứ ba trong tháng cô đi làm muộn, và giờ lại có khách. Tuyệt thật. |
| She opened the door and forced her mouth into a smile she hoped said, ‘I’d love to chat, but sorry I can’t!’. | Cô mở cửa, cố ép mình nở một nụ cười mà cô hy vọng nó mang thông điệp: “Tôi rất muốn tán gẫu, nhưng tiếc là tôi không thể!”. |
| ‘And how are we today, Victoria?’ the man at her door asked. ‘Good, I hope! If not, I bring you an eternity of warmth and best wishes from the wonderful director of my company.’ | “Hôm nay chúng ta thế nào rồi, Victoria?” người đàn ông ở cửa hỏi. “Tôi hy vọng là tốt! Nếu không, tôi mang đến cho cô sự ấm áp vĩnh cửu và những lời chúc tốt đẹp nhất từ vị giám đốc tuyệt vời của công ty tôi.” |
| Victoria’s smile vanished. How did he know her name? | Nụ cười của Victoria vụt tắt. Sao ông ta biết tên cô? |
| ‘You know how I can be so sure? I am the wonderful director of my company!’ he said, winking. | “Cô biết vì sao tôi có thể chắc chắn vậy không? Vì tôi chính là vị giám đốc tuyệt vời của công ty mình đây!” ông ta nói rồi nháy mắt. |
| ‘I’m sorry,’ said Victoria. ‘I’m in a rush. I’m late for work.’ | “Tôi xin lỗi,” Victoria nói. “Tôi đang vội. Tôi bị muộn làm rồi.” |
| ‘Time!’ He clicked his tongue. ‘That’s what they all want. Time or happiness, which one would you like more of?’ | “Thời gian!” Ông ta tặc lưỡi. “Đó là thứ mà ai cũng muốn. Thời gian hay hạnh phúc, cô muốn cái nào hơn?” |
| ‘Listen, really,’ said Victoria, ‘I’m not interested, sorry.’ | “Nghe này, thực sự đấy,” Victoria nói, “Tôi không quan tâm đâu, xin lỗi nhé.” |
| ‘We’ve got a special offer on,’ he replied. ‘Twenty-five years of extra life in exchange for eternity. Or,’ he smiled widely, ‘double your happiness for the same price.’ | “Chúng tôi đang có ưu đãi đặc biệt đây,” ông ta đáp. “Thêm 25 năm tuổi thọ để đổi lấy sự vĩnh hằng. Hoặc,” ông ta cười rạng rỡ, “gấp đôi hạnh phúc với cùng mức giá đó.” |
| ‘Price?’ she repeated, despite it being far from the strangest part of his sentence. | “Giá cả sao?” cô lặp lại, mặc dù đó chưa phải là phần kỳ quái nhất trong câu nói của ông ta. |
| ‘Yes, it’s a fixed price, no hidden charges. We take everything you have – forever.’ | “Đúng vậy, giá cố định, không phí ẩn. Chúng tôi lấy đi mọi thứ cô có – mãi mãi.” |
| It was strange that he was wasting his precious selling time on talking nonsense. ‘Then I want fifty extra years or four times more happiness,’ she joked. | Thật lạ là ông ta lại lãng phí thời gian bán hàng quý báu để nói những điều nhảm nhí. “Vậy tôi muốn thêm 50 năm hoặc hạnh phúc gấp 4 lần,” cô nói đùa. |
| ‘Oh, you could. But I have to warn you, the quality of the years after the standard twenty-five isn’t always as high. I’d go for happiness.’ | “Ồ, cô có thể chứ. Nhưng tôi phải cảnh báo cô, chất lượng của những năm sau mức 25 năm tiêu chuẩn không phải lúc nào cũng cao đâu. Tôi thì tôi sẽ chọn hạnh phúc.” |
| He pushed the lift button for her. Of course, it was obvious, at this time of day, dressed for work, that she was about to go down. | Ông ta nhấn nút thang máy hộ cô. Dĩ nhiên, vào giờ này, nhìn trang phục công sở cô đang mặc thì rõ ràng là cô chuẩn bị đi xuống. |
| OK, so her shirt wasn’t ironed because she hadn’t had time and her very-important-looking briefcase actually contained sandwiches for lunch because she couldn’t afford to join her colleagues eating out for lunch. | Phải, áo sơ mi của cô chưa ủi vì không có thời gian, và chiếc cặp táp trông-có-vẻ-quan-trọng thực ra chỉ đựng bánh mì kẹp cho bữa trưa vì cô không đủ tiền đi ăn ngoài với đồng nghiệp. |
| Plus, she worked through her breaks, desperately trying to find extra time for all the work she had to do. One day, she’d get her dream job – just as soon as she knew what that was. | Thêm nữa, cô làm việc xuyên cả giờ nghỉ, tuyệt vọng tìm thêm thời gian cho mớ công việc chồng chất. Một ngày nào đó, cô sẽ có được công việc mơ ước – ngay khi cô biết công việc đó là gì. |
| Sometimes Victoria felt as if her sister had all the luck in the family. Not only did she run her own award-winning publishing company, she’d married an equally talented man, the gorgeous and funny Peter, whose only fault was not having a twin. | Đôi khi Victoria cảm thấy như thể chị gái mình chiếm hết may mắn của cả nhà. Chị không chỉ điều hành công ty xuất bản đạt giải thưởng của riêng mình, mà còn kết hôn với một người đàn ông tài năng không kém, Peter đẹp trai và hài hước, người mà khuyết điểm duy nhất là không có anh em sinh đôi. |
| Even the way they met sounded like the plot of a film. Charlotte had been having a run of bad luck, ending in a car accident that had threatened to leave her unable to walk. | Ngay cả cách họ gặp nhau cũng giống như kịch bản phim. Charlotte đã từng gặp một chuỗi xui xẻo, kết thúc bằng một vụ tai nạn xe hơi đe dọa khiến chị không thể đi lại được. |
| Peter, a new doctor at the hospital, had to perform several risky operations that they had thought wouldn’t work, but she was back on her feet within weeks. | Peter, một bác sĩ mới tại bệnh viện, đã phải thực hiện nhiều ca phẫu thuật rủi ro mà họ từng nghĩ sẽ không thành công, nhưng chị đã có thể đứng dậy trong vòng vài tuần. |
| Even he joked that he hadn’t known he was such a good surgeon. He proposed two months later. Half a year after the accident, Charlotte had set up her company and now they lived in the most expensive part of London. | Ngay cả anh ấy cũng đùa rằng mình không biết mình lại là một bác sĩ phẫu thuật giỏi đến thế. Anh cầu hôn hai tháng sau đó. Nửa năm sau vụ tai nạn, Charlotte lập công ty và giờ họ sống ở khu đắt đỏ nhất London. |
| Victoria tried not to be jealous of her sister for any of it – but it was a level of happiness that she wished she could taste for herself. | Victoria đã cố gắng không ghen tị với chị mình vì bất cứ điều gì – nhưng đó là một mức độ hạnh phúc mà cô ước mình có thể tự mình nếm trải. |
| Thinking about Charlotte’s accident reminded her how impossible it was to know what might happen. ‘But what if I get run over by a bus tomorrow?’ | Nghĩ về tai nạn của Charlotte khiến cô nhớ ra rằng không thể biết trước điều gì sẽ xảy ra. “Nhưng nếu ngày mai tôi bị xe buýt cán thì sao?” |
| ‘Then you’ll have been blissfully happy for that one day. Time or happiness, I can only offer one. I’m not a miracle worker. That’s another company.’ | “Thì cô sẽ được hạnh phúc ngập tràn trong một ngày đó. Thời gian hay hạnh phúc, tôi chỉ có thể cung cấp một thôi. Tôi không phải là người làm phép lạ. Đó là bên công ty khác rồi.” |
| He winked again. ‘Well, maybe you should change jobs,’ she said and pressed the lift button herself. | Ông ta lại nháy mắt. “Chà, có lẽ ông nên đổi việc đi,” cô nói và tự mình nhấn nút thang máy. |
| He shook his head. ‘I’ve tried them. Their sales team has quite a different approach. Be miserable now, then happy for eternity. It has its appeal but, honestly, it’s a much harder sell.’ | Ông ta lắc đầu. “Tôi thử bên đó rồi. Đội ngũ bán hàng của họ có cách tiếp cận khá khác. Chịu khổ bây giờ, rồi hạnh phúc vĩnh viễn. Nó cũng có sức hút riêng, nhưng thành thật mà nói, khó bán hơn nhiều.” |
| The lift wasn’t even moving. She turned towards the stairs. ‘Late’ didn’t begin to describe the time she would get to work. | Thang máy còn chẳng thèm di chuyển. Cô quay sang phía cầu thang bộ. Từ “muộn” vẫn chưa đủ để diễn tả thời gian cô sẽ đến chỗ làm. |
| But as she started down the stairs, she suddenly remembered something. ‘Damn!’ she swore. She hadn’t picked up her little nieces’ birthday presents. | Nhưng khi vừa bắt đầu bước xuống cầu thang, cô chợt nhớ ra điều gì đó. “Khốn khiếp!” cô chửi thề. Cô vẫn chưa lấy quà sinh nhật cho các cháu gái nhỏ. |
| There wasn’t time to go back and get them now. Angela and Gabriella’s perfect birthday party would be minus two messily wrapped presents from their imperfect auntie. | Giờ không còn thời gian để quay lại lấy chúng nữa. Bữa tiệc sinh nhật hoàn hảo của Angela và Gabriella sẽ thiếu đi hai món quà gói ghém vụng về từ người dì không hoàn hảo của chúng. |
| One day they’d be old enough to wonder how their mother could be related to Victoria. | Một ngày nào đó chúng sẽ đủ lớn để thắc mắc sao mẹ mình lại có thể là chị em với Victoria được nhỉ. |
| ‘It’s time, isn’t it, Victoria. I can always tell,’ he called after her. | “Là thời gian, phải không Victoria. Tôi luôn đoán được mà,” ông ta gọi với theo cô. |
| ‘Even if I believed this ridiculous stuff you’re saying, I don’t have time to discuss it with you …’ | “Ngay cả khi tôi tin những thứ nực cười ông đang nói, tôi cũng không có thời gian để thảo luận với ông…” |
| She broke off, annoyed with herself for admitting she needed more time, and then let out a little scream as he slid down the banister and suddenly appeared in front of her, floating in the air with his arms and legs crossed. | Cô ngắt lời, bực bội với chính mình vì đã thừa nhận mình cần thêm thời gian, rồi khẽ hét lên khi ông ta trượt xuống tay vịn cầu thang và đột nhiên xuất hiện trước mặt cô, lơ lửng trên không với tay chân khoanh lại. |
| ‘Then it’s happiness!’ he said, scratching one of two little horns that she now noticed on either side of his head. | “Vậy thì là hạnh phúc nhé!” ông ta nói, gãi một trong hai chiếc sừng nhỏ mà giờ cô mới nhận thấy ở hai bên đầu ông ta. |
| Victoria pulled her hand off the banister and put her other hand against the wall so she wouldn’t fall. She caught her nails on the rough bricks, feeling two of them break where they joined the skin. | Victoria rụt tay khỏi tay vịn và áp bàn tay kia vào tường để không bị ngã. Móng tay cô vấp vào những viên gạch thô ráp, cô cảm thấy hai chiếc móng bị gãy ngay chỗ sát vào da. |
| The pain made her scream again, but she didn’t stop to look now she was sure who he was. | Cơn đau khiến cô hét lên lần nữa, nhưng cô không dừng lại để nhìn vì giờ cô đã chắc chắn ông ta là ai. |
| ‘I’m happy enough, thanks,’ she said, with as much strength in her voice as she could while running down the stairs with two bleeding fingers. | “Tôi đủ hạnh phúc rồi, cảm ơn,” cô nói với giọng mạnh mẽ nhất có thể trong khi đang chạy xuống cầu thang với hai ngón tay rướm máu. |
| ‘Are you happy, Victoria?’ he asked as he continued sliding down the banister with her. | “Cô có hạnh phúc không, Victoria?” ông ta hỏi khi tiếp tục trượt trên tay vịn cùng cô. |
| ‘Of course, you love your job, however low paid it is and never mind the fact that your boss hates you because you’re never on time. You’ll find the rent somehow, you always do. So resourceful.’ | “Dĩ nhiên rồi, cô yêu công việc của mình dù lương thấp tịt, và chẳng thèm quan tâm chuyện sếp ghét cô vì cô chẳng bao giờ đúng giờ. Cô sẽ xoay xở được tiền thuê nhà bằng cách nào đó thôi, cô luôn làm được mà. Thật tháo vát làm sao.” |
| ‘You can’t know that!’ she shouted. ‘Anyway, money doesn’t buy happiness! It’s the root of all evil.’ | “Ông không thể biết chuyện đó được!” cô hét lên. “Dù sao thì, tiền không mua được hạnh phúc! Nó là nguồn gốc của mọi tội lỗi.” |
| ‘True, Victoria, true. Very wise. It’s love that makes the world go round.’ | “Đúng, Victoria, đúng đấy. Rất thông thái. Chính tình yêu mới làm thế giới này vận hành.” |
| ‘Exactly!’ she said, winning a point finally. Five more floors to go. | “Chính xác!” cô nói, cuối cùng cũng thắng được một điểm. Còn năm tầng nữa. |
| ‘I’m sure one day you’ll meet someone …’ he said. | “Tôi chắc rằng một ngày nào đó cô sẽ gặp một ai đó…” ông ta nói. |
| ‘I don’t need a man to be happy, so if that’s all you’ve got in your happy bag …’ | “Tôi không cần đàn ông để hạnh phúc, nên nếu đó là tất cả những gì ông có trong cái túi hạnh phúc của mình thì…” |
| ‘So wise, Victoria,’ he continued. ‘So few people realise happiness comes from within, not from material things or other people. I see you’re cleverer than many of our customers. Twenty-five years extra, then.’ | “Thật thông thái, Victoria,” ông ta tiếp tục. “Rất ít người nhận ra hạnh phúc đến từ bên trong, chứ không phải từ vật chất hay người khác. Tôi thấy cô thông minh hơn nhiều khách hàng của chúng tôi đấy. Vậy thì, thêm 25 năm nhé.” |
| ‘I can see it in you, Victoria. You won’t waste them.’ | “Tôi có thể thấy điều đó ở cô, Victoria. Cô sẽ không lãng phí chúng đâu.” |
| ‘Twenty-five on top of what, though?’ | “Nhưng 25 năm cộng thêm vào cái gì cơ chứ?” |
| ‘No, no, no.’ He turned the final corner with her. ‘I won’t tell you how long you would have lived, because then you’ll know how long you’ve got left. We’ve tried that before. People just ruin it for themselves. It’s in the small print but I wouldn’t read that if I were you.’ | “Không, không, không.” Ông ta rẽ khúc quanh cuối cùng cùng cô. “Tôi sẽ không nói cho cô biết cô đáng lẽ sẽ sống được bao lâu, vì khi đó cô sẽ biết mình còn lại bao nhiêu thời gian. Chúng tôi đã thử cách đó trước đây rồi. Người ta chỉ tự làm hỏng mọi chuyện thôi. Nó nằm trong phần chữ in nhỏ, nhưng nếu tôi là cô thì tôi sẽ không đọc đâu.” |
| ‘I don’t believe in this stuff. Or in you!’ | “Tôi không tin vào mấy thứ này. Cũng chẳng tin ông!” |
| He jumped off the banister and bowed, holding something small and white out to her. | Ông ta nhảy khỏi tay vịn và cúi chào, đưa ra cho cô một thứ gì đó nhỏ và trắng. |
| ‘Neither did your sister,’ he said. ‘Not until she had her accident. My card if you change your mind.’ | “Chị gái cô cũng từng không tin đấy,” ông ta nói. “Cho đến tận khi cô ấy gặp tai nạn. Danh thiếp của tôi đây, nếu cô đổi ý.” |
| And he disappeared, leaving Victoria with the card in her hand and her mouth open in shock. | Và ông ta biến mất, để lại Victoria với tấm danh thiếp trên tay và cái miệng há hốc vì kinh ngạc. |
Category: Uncategorized