Skip to content

Sophie's Garden

Where stories, ideas, and wisdom come to life.

Menu
  • Danh Mục
    • Classic Literature
    • Children & Young Adult
    • Short Stories & Fables
    • Aesop
    • Horror & Mystery
    • Philosophy & Ethics
  • Trình Độ
    • B1
    • B2
    • C1
    • C2
  • Văn Học Việt Nam
  • About me
Menu

The Minister’s Black Veil / Tấm Mạng Đen Của Mục Sư by Nathaniel Hawthorne

Posted on May 2, 2026May 4, 2026 by Sophie
B2, Classic Literature, Horror & Mystery, Nathaniel Hawthorne

Xuất bản năm 1832 trong tập “Twice-Told Tales”, “The Minister’s Black Veil” của Hawthorne là kiệt tác Dark Romanticism Mỹ—ám ảnh và đa nghĩa, khiến độc giả tự hỏi: tấm mạng đen che giấu tội lỗi, hay phản chiếu bí mật của chính chúng ta?

Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần Cuối
Bình Luận
Full Eng
Quizz!

The Minister’s Black Veil / Tấm Mạng Đen Của Mục Sư by Nathaniel Hawthorne

Part 1: The Black Veil Appears
Phần 1: Tấm Mạng Đen Xuất Hiện

THE SEXTON stood in the porch of Milford meetinghouse, pulling busily at the bell rope.
NGƯỜI GÁC CHUÔNG đứng ở hiên nhà thờ Milford, tay thoăn thoắt kéo sợi dây chuông.

The old people of the village came stooping along the street.
Những người già trong làng lom khom bước dọc theo con đường.

Children, with bright faces, tripped merrily beside their parents, or mimicked a graver gait, in the conscious dignity of their Sunday clothes.
Những đứa trẻ với khuôn mặt rạng rỡ nhảy nhót vui vẻ bên cạnh cha mẹ, hoặc bắt chước dáng đi nghiêm trang hơn, tự hào trong bộ quần áo ngày Chủ nhật.

Spruce bachelors looked sidelong at the pretty maidens, and fancied that the Sabbath sunshine made them prettier than on weekdays.
Những chàng trai bảnh bao liếc nhìn các cô gái xinh đẹp, và tưởng tượng rằng ánh nắng ngày Sabbath khiến họ trở nên xinh đẹp hơn ngày thường.

When the throng had mostly streamed into the porch, the sexton began to toll the bell, keeping his eye on the Reverend Mr. Hooper’s door.
Khi đám đông phần lớn đã đổ vào hiên nhà thờ, người gác chuông bắt đầu gióng hồi chuông, mắt không rời cửa nhà của Mục sư Hooper.

The first glimpse of the clergyman’s figure was the signal for the bell to cease its summons.
Hình bóng đầu tiên của vị giáo sĩ xuất hiện là tín hiệu để tiếng chuông ngừng kêu gọi.

“But what has good Parson Hooper got upon his face?” cried the sexton in astonishment.
“Nhưng Mục sư Hooper tốt bụng có gì trên mặt vậy?” người gác chuông kêu lên kinh ngạc.

All within hearing immediately turned about, and beheld the semblance of Mr. Hooper, pacing slowly his meditative way toward the meetinghouse.
Tất cả những ai nghe thấy lập tức quay lại, và nhìn thấy bóng dáng của Mục sư Hooper đang bước chậm rãi trong suy tư về phía nhà thờ.

With one accord they started, expressing more wonder than if some strange minister were coming to dust the cushions of Mr. Hooper’s pulpit.
Tất cả đồng loạt giật mình, bày tỏ sự kinh ngạc còn hơn cả khi một vị mục sư lạ nào đó đến phủi bụi gối tựa trên bục giảng của Mục sư Hooper.

“Are you sure it is our parson?” inquired Goodman Gray of the sexton.
“Ông có chắc đó là mục sư của chúng ta không?” Goodman Gray hỏi người gác chuông.

“Of a certainty it is good Mr. Hooper,” replied the sexton. “He was to have exchanged pulpits with Parson Shute, of Westbury; but Parson Shute sent to excuse himself yesterday, being to preach a funeral sermon.”
“Chắc chắn đó là Mục sư Hooper tốt bụng rồi,” người gác chuông đáp. “Ông ấy định đổi bục giảng với Mục sư Shute ở Westbury; nhưng hôm qua Mục sư Shute cho người đến xin lỗi, vì phải giảng bài giảng tang lễ.”

The cause of so much amazement may appear sufficiently slight.
Nguyên nhân của bao nhiêu kinh ngạc có vẻ khá tầm thường.

Mr. Hooper gentlemanly person, of about thirty, though still a bachelor, was dressed with due clerical neatness, as if a careful wife had starched his band, and brushed the weekly dust from his Sunday’s garb.
Mục sư Hooper, một người lịch lãm khoảng ba mươi tuổi, dù vẫn còn độc thân, mặc quần áo giáo sĩ gọn gàng tươm tất, như thể một người vợ chu đáo đã hồ cổ áo và phủi bụi tuần khỏi bộ quần áo Chủ nhật của ông.

There was but one thing remarkable in his appearance.
Chỉ có một điều đáng chú ý trong vẻ ngoài của ông.

Swathed about his forehead, and hanging down over his face, so low as to be shaken by his breath Mr. Hooper had on a black veil.
Quấn quanh trán, rủ xuống che khuôn mặt, thấp đến mức bị hơi thở làm lay động, Mục sư Hooper đang đeo một tấm mạng đen.

On a nearer view it seemed to consist of two folds of crepe, which entirely concealed his features, except the mouth and chin, but probably did not intercept his sight, further than to give a darkened aspect to all living and inanimate things.
Nhìn gần hơn, nó có vẻ gồm hai lớp vải crepe, che kín hoàn toàn các nét trên khuôn mặt ông, trừ miệng và cằm, nhưng có lẽ không cản trở tầm nhìn của ông, ngoài việc mang lại vẻ tối tăm cho mọi thứ sống động và vô tri.

With this gloomy shade before him, good Mr. Hooper walked onward, at a slow and quiet pace, stooping somewhat, and looking on the ground, as is customary with abstracted men, yet nodding kindly to those of his parishioners who still waited on the meetinghouse steps.
Với cái bóng u ám trước mặt, Mục sư Hooper tốt bụng bước tiếp với nhịp bước chậm rãi và lặng lẽ, hơi cúi người, mắt nhìn xuống đất như thói quen của người đang mải suy nghĩ, nhưng vẫn gật đầu thân thiện với những giáo dân còn đứng chờ trên bậc thềm nhà thờ.

But so wonderstruck were they that his greeting hardly met with a return.
Nhưng họ quá sửng sốt đến nỗi lời chào của ông hầu như không nhận được hồi đáp.

“I can’t really feel as if good Mr. Hooper’s face was behind that piece of crape,” said the sexton.
“Tôi thực sự không thể cảm nhận như thể khuôn mặt Mục sư Hooper tốt bụng đang ở sau tấm vải crepe đó,” người gác chuông nói.

“I don’t like it,” muttered an old woman, as she hobbled into the meetinghouse. “He has changed himself into something awful, only by hiding his face.”
“Tôi không thích điều này,” một bà lão lầm bầm khi bước tập tễnh vào nhà thờ. “Ông ấy đã biến mình thành thứ gì đó đáng sợ, chỉ bằng cách che giấu khuôn mặt.”

“Our parson has gone mad!” cried Goodman Gray, following him across the threshold.
“Mục sư của chúng ta đã phát điên rồi!” Goodman Gray kêu lên, bước theo ông qua ngưỡng cửa.

A rumor of some unaccountable phenomenon had preceded Mr. Hooper into the meetinghouse, and set all the congregation astir.
Tin đồn về một hiện tượng không thể giải thích đã đến trước Mục sư Hooper vào nhà thờ, khiến toàn bộ giáo đoàn xôn xao.

Few could refrain from twisting their heads toward the door; many stood upright, and turned directly about while several little boys clambered upon the seats, and came down again with a terrible racket.
Ít ai có thể nhịn được việc ngoảnh đầu về phía cửa; nhiều người đứng thẳng dậy và quay hẳn lại; trong khi một số cậu bé leo lên ghế ngồi rồi trèo xuống tạo ra tiếng ồn ào ghê gớm.

There was a general bustle, a rustling of the women’s gowns and shuffling of the men’s feet, greatly at variance with that hushed repose which should attend the entrance of the minister.
Có một sự huyên náo chung, tiếng sột soạt của váy áo phụ nữ và tiếng lê chân của đàn ông, hoàn toàn trái ngược với vẻ yên tĩnh lặng lẽ vốn phải có khi vị mục sư bước vào.

But Mr. Hooper appeared not to notice the perturbation of his people.
Nhưng Mục sư Hooper dường như không để ý đến sự bối rối của giáo dân mình.

He entered with an almost noiseless step, bent his head mildly to the pews on each side, and bowed as he passed his oldest parishioner, a whitehaired great-grandsire, who occupied an armchair in the center of the aisle.
Ông bước vào với bước chân gần như không tiếng động, khẽ cúi đầu về phía các hàng ghế hai bên, và cúi chào khi đi ngang qua giáo dân lớn tuổi nhất của mình, một cụ già đầu bạc tóc trắng đang ngồi trên chiếc ghế bành ở giữa lối đi.

It was strange to observe how slowly this venerable man became conscious of something singular in the appearance of his pastor.
Thật kỳ lạ khi quan sát ông cụ đáng kính này nhận ra sự khác lạ trong vẻ ngoài của vị mục sư của mình một cách chậm chạp đến vậy.

He seemed not fully to partake of the prevailing wonder, till Mr. Hooper had ascended the stairs, and showed himself in the pulpit, face to face with his congregation, except for the black veil.
Ông cụ dường như không hoàn toàn chia sẻ sự kinh ngạc chung, cho đến khi Mục sư Hooper đã bước lên cầu thang và xuất hiện trên bục giảng, đối mặt với giáo đoàn của mình, ngoại trừ tấm mạng đen.

That mysterious emblem was never once withdrawn.
Biểu tượng bí ẩn đó chưa một lần được gỡ xuống.

It shook with his measured breath, as he gave out the psalm; it threw its obscurity between him and the holy page, as he read the Scriptures; and while he prayed, the veil lay heavily on his uplifted countenance.
Nó rung động theo hơi thở đều đặn của ông khi ông xướng thánh ca; nó trải bóng tối giữa ông và trang kinh thánh khi ông đọc Kinh Thánh; và trong khi ông cầu nguyện, tấm mạng đè nặng trên khuôn mặt ngẩng lên của ông.

Did he seek to hide it from the dread Being whom he was addressing?
Phải chăng ông tìm cách che giấu điều gì đó khỏi Đấng đáng kính mà ông đang hướng lời đến?

Such was the effect of this simple piece of crepe, that more than one woman of delicate nerves was forced to leave the meetinghouse.
Tác động của mảnh vải crepe đơn giản này lớn đến mức nhiều hơn một người phụ nữ yếu thần kinh buộc phải rời khỏi nhà thờ.

Yet perhaps the pale-faced congregation was almost as fearful a sight to the minister, as his black veil to them.
Thế nhưng có lẽ giáo đoàn với những khuôn mặt tái nhợt cũng là một cảnh tượng gần như đáng sợ đối với vị mục sư, giống như tấm mạng đen của ông đối với họ.

Mr. Hooper had the reputation of a good preacher, but not an energetic one; he strove to win his people heavenward by mild, persuasive influences, rather than to drive them thither by the thunders of the Word.
Mục sư Hooper có tiếng là một nhà thuyết giảng tốt, nhưng không phải mạnh mẽ; ông cố gắng dẫn dắt giáo dân về phía thiên đường bằng những tác động nhẹ nhàng, thuyết phục, hơn là thúc đẩy họ bằng sấm sét của Lời Chúa.

The sermon which he now delivered was marked by the same characteristics of style and manner as the general series of his pulpit oratory.
Bài giảng mà ông đang trình bày mang những đặc điểm về phong cách và cách thức giống như toàn bộ loạt bài giảng từ bục giảng của ông.

But there was something, either in the sentiment of the discourse itself, or in the imagination of the auditors, which made it greatly the most powerful effort that they had ever heard from their pastor’s lips.
Nhưng có điều gì đó, hoặc trong cảm xúc của bài giảng, hoặc trong trí tưởng tượng của người nghe, khiến đây trở thành bài giảng mạnh mẽ nhất mà họ từng được nghe từ môi vị mục sư của mình.

It was tinged, rather more darkly than usual, with the gentle gloom of Mr. Hooper’s temperament.
Nó được nhuốm màu, tối tăm hơn thường lệ, bởi vẻ u buồn nhẹ nhàng trong tính cách của Mục sư Hooper.

The subject had reference to secret sit, and those sad mysteries which we hide from our nearest and dearest and would fain conceal from our own consciousness, even forgetting that the Omniscient can de tect them.
Chủ đề đề cập đến tội lỗi bí mật, và những bí ẩn buồn đau mà chúng ta che giấu khỏi những người thân yêu nhất, và mong muốn che khuất khỏi chính ý thức của mình, thậm chí quên mất rằng Đấng Toàn Tri có thể nhận ra chúng.

A subtle power was breathed into his words.
Một sức mạnh tinh tế được thổi vào từng lời nói của ông.

Each member of the congregation, the most innocent girl, and the man of hardened breast, felt as if the preacher had crept upon them, behind his awful veil, and discovered their hoarded iniquity of deed or thought.
Mỗi thành viên trong giáo đoàn, từ cô gái trong sáng nhất đến người đàn ông chai lì nhất, đều cảm thấy như thể nhà thuyết giảng đã lén lút tiến đến sau tấm mạng đáng sợ của mình và khám phá ra những tội lỗi chất chứa trong hành động hay suy nghĩ của họ.

Many spread their clasped hands on their bosoms.
Nhiều người áp hai bàn tay đan vào nhau lên ngực mình.

There was nothing terrible in what Mr. Hooper said, at least no violence; and yet, with every tremor of his melancholy voice, the hearers quaked.
Không có gì kinh khủng trong những gì Mục sư Hooper nói, ít nhất là không có bạo lực; thế nhưng với mỗi run rẩy trong giọng nói u sầu của ông, người nghe lại rùng mình.

An unsought pathos came hand in hand with awe.
Một nỗi bi thương không tìm kiếm đến cùng với sự kính sợ.

So sensible were the audience of some unwonted attribute in their minister, that they longed for a breath of wind to blow aside the veil, almost believing that a stranger’s visage would be discovered, though the form, gesture, and voice were those of Mr. Hooper.
Người nghe nhạy cảm đến mức nhận ra điều gì đó bất thường trong vị mục sư của mình, đến nỗi họ mong một làn gió thổi bay tấm mạng sang một bên, gần như tin rằng khuôn mặt của một người lạ sẽ lộ ra, dù hình dáng, cử chỉ và giọng nói đều là của Mục sư Hooper.

At the close of the services, the people hurried out with indecorous confusion, eager to communicate their pent-up amazement, and conscious of lighter spirits the moment they lost sight of the black veil.
Khi buổi lễ kết thúc, mọi người vội vã bước ra trong sự hỗn loạn mất trật tự, nóng lòng chia sẻ sự kinh ngạc dồn nén, và cảm thấy lòng nhẹ nhõm hơn ngay khoảnh khắc mất đi tấm mạng đen trước mắt.

Some gathered in little circles, huddled closely together, with their mouths all whispering in the center; some went homeward alone, wrapt in silent meditation; some talked loudly, and profaned the Sabbath day with ostentatious laughter.
Một số tụ thành nhóm nhỏ, quây sát vào nhau, miệng đều thì thầm ở trung tâm; một số đi về nhà một mình, đắm chìm trong suy tư lặng lẽ; một số nói to và xúc phạm ngày Sabbath bằng tiếng cười phô trương.

A few shook, their sagacious heads, intimating that they could penetrate the mystery; while one or two affirmed that there was no mystery at all, but only that Mr. Hooper’s eyes were so weakened by the midnight lamp as to require a shade.
Một vài người lắc đầu khôn ngoan, ám chỉ rằng họ có thể thấu hiểu bí ẩn; trong khi một hoặc hai người khẳng định rằng không có bí ẩn nào cả, chỉ là mắt Mục sư Hooper bị yếu đi vì đèn đêm khuya đến mức cần một tấm che.

After a brief interval, forth came good Mr. Hooper also, in the rear of his flock.
Sau một khoảng nghỉ ngắn, Mục sư Hooper tốt bụng cũng bước ra, đi sau đàn chiên của mình.

Turning his veiled face from one group to another, he paid due reverence to the hoary heads, saluted the middle-aged with kind dignity as their friend and spiritual guide, greeted the young with mingled authority and love, and laid his hands on the little children’s heads to bless them.
Quay khuôn mặt có tấm mạng từ nhóm này sang nhóm khác, ông bày tỏ sự kính trọng thích đáng với những đầu tóc bạc, chào hỏi những người trung niên với phẩm cách thân thiện như người bạn và người hướng dẫn tâm linh, đón chào giới trẻ với sự kết hợp giữa uy quyền và tình yêu, và đặt tay lên đầu những đứa trẻ nhỏ để ban phước.

Such was always his custom on the Sabbath day.
Đó luôn là thói quen của ông vào ngày Sabbath.

Strange and bewildered looks repaid him for his courtesy.
Những cái nhìn kỳ lạ và bối rối đáp lại sự lịch thiệp của ông.

None, as on former occasions, aspired to the honor of walking by their pastor’s side.
Không ai, như những dịp trước, khao khát vinh dự được bước đi bên cạnh vị mục sư của mình.

Old Squire Saunders, doubtless by an accidental lapse of memory, neglected to invite Mr. Hooper to his table, where the good clergyman had been wont to bless the food, almost every Sunday since his settlement.
Lão Squire Saunders, chắc hẳn do vô tình quên lãng, đã không mời Mục sư Hooper đến bàn ăn của mình, nơi vị giáo sĩ tốt bụng vẫn thường đọc lời ban phước trước bữa ăn gần như mỗi Chủ nhật kể từ khi ông đến đây.

He returned, therefore, to the parsonage, and, at the moment of closing the door, was observed to look back upon the people, all of whom had their eyes fixed upon the minister.
Vì vậy, ông trở về nhà xứ, và vào khoảnh khắc đóng cửa lại, người ta thấy ông nhìn lại đám đông, tất cả đều đang dõi mắt theo vị mục sư.

A sad smile gleamed faintly from beneath the black veil, and flickered about his mouth, glimmering as he disappeared.
Một nụ cười buồn le lói từ bên dưới tấm mạng đen, lấp lánh quanh khóe miệng ông, rồi lịm đi khi ông biến mất.

“How strange,” said a lady, “that a simple black veil, such as any woman might wear on her bonnet, should become such a terrible thing on Mr. Hooper’s face.”
“Thật kỳ lạ,” một người phụ nữ nói, “rằng một tấm mạng đen đơn giản, thứ bất kỳ người phụ nữ nào cũng có thể đeo trên mũ, lại trở thành thứ gì đó đáng sợ đến vậy trên khuôn mặt Mục sư Hooper.”

“Something must surely be amiss with Hooper’s intellects,” observed her husband, the physician of the village. “But the strangest part of the affair is the effect of this vagary, even on a sober-minded man like myself. The black veil, though it covers only our pastor’s face, throws its influence over his whole person, and makes him ghostlike from head to foot. Do you not feel it so?”
“Chắc chắn có điều gì đó không ổn với trí tuệ của Hooper,” người chồng của bà, thầy thuốc trong làng, nhận xét. “Nhưng phần kỳ lạ nhất của sự việc này là tác động của trò kỳ quặc này, ngay cả với một người có đầu óc tỉnh táo như tôi. Tấm mạng đen, dù chỉ che khuôn mặt của mục sư chúng ta, lại gieo ảnh hưởng lên toàn thân ông ấy, khiến ông trông như bóng ma từ đầu đến chân. Bà có cảm nhận như vậy không?”

“Truly do I,” replied the lady; “and I would not be alone with him for the world. I wonder he is not afraid to be alone with himself!”
“Tôi cũng vậy,” người phụ nữ đáp; “và tôi không muốn ở một mình với ông ấy dù có trả bao nhiêu. Tôi thắc mắc tại sao ông ấy lại không sợ khi ở một mình với chính mình!”

“Men sometimes are so,” said her husband.
“Đàn ông đôi khi là như vậy,” người chồng nói.

End of Part 1 — Stay tuned for the next episode! / Kết thúc Phần 1 — Hãy đón đọc phần tiếp theo!

Part 2: The Funeral, the Wedding, and the Village
Phần 2: Tang Lễ, Đám Cưới và Cả Làng

The afternoon service was attended with similar circumstances.
Buổi lễ chiều cũng diễn ra trong những hoàn cảnh tương tự.

At its conclusion, the bell tolled for the funeral of a young lady.
Khi kết thúc, chuông nhà thờ điểm lên báo hiệu tang lễ của một thiếu nữ.

The relatives and friends were assembled in the house, and the more distant acquaintances stood about the door, speaking of the good qualities of the deceased, when their talk was interrupted by the appearance of Mr. Hooper, still covered with his black veil.
Người thân và bạn bè tụ họp trong nhà, những người quen xa hơn đứng quanh cửa nói về những phẩm chất tốt đẹp của người quá cố, khi cuộc trò chuyện của họ bị ngắt ngang bởi sự xuất hiện của Mục sư Hooper, vẫn che kín bằng tấm mạng đen.

It was now an appropriate emblem.
Lúc này nó là một biểu tượng phù hợp.

The clergyman stepped into the room where the corpse was laid, and bent over the coffin, to take a last farewell of his deceased parishioner.
Vị giáo sĩ bước vào căn phòng nơi thi hài được đặt, và cúi xuống trên quan tài để nói lời từ biệt cuối cùng với giáo dân đã khuất của mình.

As he stooped, the veil hung straight down from his forehead, so that, if her eyelids had not been dosed forever, the dead maiden might have seen his face.
Khi ông cúi xuống, tấm mạng rủ thẳng xuống từ trán, đến nỗi nếu đôi mắt của cô gái không nhắm lại mãi mãi, người thiếu nữ đã khuất có thể đã nhìn thấy khuôn mặt ông.

Could Mr. Hooper be fearful of her glance, that he so hastily caught back the black veil?
Phải chăng Mục sư Hooper sợ ánh nhìn của cô, đến nỗi ông vội vã kéo lại tấm mạng đen như vậy?

A person who watched the interview between the dead and the living scrupled not to affirm, that, at the instant when the clergyman’s features were disclosed, the corpse had slightly shuddered, rustling the shroud and muslin cap, though the countenance retained the composure of death.
Một người chứng kiến cuộc gặp gỡ giữa người chết và người sống không ngần ngại khẳng định rằng vào khoảnh khắc các nét trên khuôn mặt vị giáo sĩ được lộ ra, thi hài đã khẽ rùng mình, làm tờ vải liệm và mũ vải xột xoạt, dù khuôn mặt vẫn giữ nguyên vẻ bình thản của cái chết.

A superstitious old woman was the only witness of this prodigy.
Một bà lão mê tín dị đoan là nhân chứng duy nhất của điều kỳ diệu này.

From the coffin Mr. Hooper passed into the chamber of the mourners, and thence to the head of the staircase, to make the funeral prayer.
Từ quan tài, Mục sư Hooper bước sang buồng của những người chịu tang, rồi đến đầu cầu thang để đọc lời cầu nguyện cho tang lễ.

It was a tender and heart-dissolving prayer, full of sorrow, yet so imbued with celestial hopes, that the music of a heavenly harp, swept by the fingers of the dead, seemed faintly to be heard among the saddest accents of the minister.
Đó là một lời cầu nguyện tha thiết và tan chảy lòng người, đầy nỗi đau buồn, nhưng lại thấm đẫm hy vọng thiên đường, đến nỗi tiếng nhạc của cây đàn hạc thiên đường, được gảy bởi những ngón tay của người đã khuất, dường như vang vọng khẽ khàng trong những giọng điệu buồn nhất của vị mục sư.

The people trembled, though they but darkly understood him when he prayed that they, and himself, and all of mortal race, might be ready, as he trusted this young maiden had been, for the dreadful hour that should snatch the veil from their faces.
Mọi người run rẩy, dù họ chỉ mơ hồ hiểu ông khi ông cầu nguyện rằng họ, và bản thân ông, và tất cả loài người hữu tử, có thể sẵn sàng — như ông tin rằng người thiếu nữ này đã sẵn sàng — cho giờ phút khủng khiếp sẽ giật tấm mạng khỏi khuôn mặt của họ.

The bearers went heavily forth, and the mourners followed, saddening all the street, with the dead before them, and Mr. Hooper in his black veil behind.
Những người khiêng quan tài bước nặng nề ra ngoài, và những người chịu tang theo sau, phủ nỗi buồn lên toàn bộ con phố, với người đã khuất đi trước và Mục sư Hooper trong tấm mạng đen theo sau.

“Why do- you look back?” said one in the procession to his partner. “I had a fancy,” replied she, “that the minister and the maiden’s spirit were walking hand in hand.”
“Tại sao anh nhìn lại?” một người trong đoàn rước hỏi người bạn đồng hành. “Tôi có cảm giác,” cô ấy đáp, “rằng vị mục sư và hồn ma của người thiếu nữ đang đi tay trong tay.”

“And so had I, at the same moment,” said the other.
“Tôi cũng vậy, vào đúng khoảnh khắc đó,” người kia nói.

That night, the handsomest couple in Milford village were to be joined in wedlock.
Tối hôm đó, đôi uyên ương đẹp đôi nhất trong làng Milford sẽ được kết hôn.

Though reckoned a melancholy man, Mr. Hooper had a placid cheerfulness for such occasions, which often excited a sympathetic smile where livelier merriment would have been thrown away.
Dù bị coi là người u sầu, Mục sư Hooper lại có sự vui vẻ bình thản trong những dịp như vậy, điều này thường khơi dậy nụ cười đồng cảm ở những nơi mà niềm vui sôi nổi hơn sẽ bị lãng phí.

There was no quality of his disposition which made him more beloved than this.
Không có phẩm chất nào trong tính cách của ông khiến ông được yêu mến hơn điều này.

The company at the wedding awaited his arrival with impatience, trusting that the strange awe, which had gathered over him throughout the day, would now be dispelled.
Những người dự đám cưới nóng lòng chờ đợi sự xuất hiện của ông, tin rằng vẻ kính sợ kỳ lạ đã bao phủ ông suốt cả ngày giờ đây sẽ tan biến.

But such was not the result.
Nhưng kết quả không phải như vậy.

When Mr. Hooper came, the first thing that their eyes rested on was the same horrible black veil, which had added deeper gloom to the funeral, and could portend nothing but evil to the wedding.
Khi Mục sư Hooper đến, điều đầu tiên mắt họ dừng lại là tấm mạng đen khủng khiếp như cũ, thứ đã thêm vào bóng tối u ám cho tang lễ và chỉ có thể báo hiệu điều xấu cho đám cưới.

Such was its immediate effect on the guests that a cloud seemed to have rolled duskily from beneath the black crepe, and dimmed the light of the candles.
Tác động tức thì của nó lên khách dự là một đám mây dường như cuộn tối tăm từ bên dưới vải crepe đen và làm mờ đi ánh nến.

The bridal pair stood up before the minister.
Đôi uyên ương đứng trước vị mục sư.

But the bride’s cold fingers quivered in the tremulous hand of the bridegroom, and her deathlike paleness caused a whisper that the maiden who had been buried a few hours before was come from her grave to be married.
Nhưng những ngón tay lạnh giá của cô dâu run rẩy trong bàn tay run lẩy bẩy của chú rể, và vẻ tái nhợt như người chết của cô khiến người ta thì thầm rằng người thiếu nữ vừa được chôn cất vài giờ trước đã từ mộ trở về để làm đám cưới.

If ever another wedding were so dismal, it was that famous one where they tolled the wedding knell.
Nếu có đám cưới nào khác u ám như vậy, thì đó là đám cưới nổi tiếng kia nơi người ta gióng hồi chuông tang lễ trong ngày cưới.

After performing the ceremony, Mr. Hooper raised a glass of wine to his lips, wishing happiness to the new-married couple in a strain of mild pleasantry that ought to have brightened the features of the guests, like a cheerful gleam from the hearth.
Sau khi thực hiện nghi lễ, Mục sư Hooper nâng ly rượu lên môi, chúc mừng hạnh phúc cho đôi tân hôn bằng những lời chúc nhẹ nhàng vui tươi lẽ ra phải làm sáng lên nét mặt của khách dự, như ánh lửa vui vẻ từ lò sưởi.

At that instant, catching a glimpse of his figure in the looking glass, the black veil involved his own spirit in the horror with which it overwhelmed all others.
Vào khoảnh khắc đó, thoáng nhìn thấy bóng mình trong gương, tấm mạng đen cuốn lấy chính linh hồn ông trong nỗi kinh hoàng mà nó áp đặt lên tất cả mọi người.

His frame shuddered his lips grew white, he spilt the untasted wine upon the carpet, and rushed forth into the darkness.
Thân mình ông rùng mình, môi trắng bệch, ông đổ ly rượu chưa uống xuống thảm và lao vội ra ngoài bóng tối.

For the Earth, too, had on her Black Veil.
Bởi vì Trái Đất cũng đang mang Tấm Mạng Đen của mình.

The next day, the whole village of Milford talked of little else than Parson Hooper’s black veil.
Ngày hôm sau, cả làng Milford hầu như chỉ nói về tấm mạng đen của Mục sư Hooper.

That, and the mystery concealed behind it, supplied a topic for discussion between acquaintances meeting in the street, and good women gossiping at their open windows.
Điều đó, và bí ẩn ẩn giấu đằng sau nó, cung cấp chủ đề bàn luận cho những người quen gặp nhau trên phố và những người phụ nữ tốt bụng đang tán gẫu bên cửa sổ mở.

It was the first item of news that the tavernkeeper told to his guests.
Đó là mẩu tin đầu tiên mà chủ quán rượu kể cho khách của mình.

The children babbled of it on their way to school.
Lũ trẻ líu lo về nó trên đường đến trường.

One imitative little imp covered his face with an old black handkerchief, thereby so affrighting his playmates that the panic seized himself, and he well-nigh lost his wits by his own waggery.
Một đứa bé tinh nghịch hay bắt chước đã che mặt bằng một chiếc khăn tay đen cũ, khiến các bạn chơi hoảng sợ đến mức chính nó cũng hoảng loạn và gần như mất trí vì trò đùa của chính mình.

End of Part 2 — Stay tuned for the next episode! / Kết thúc Phần 2 — Hãy đón đọc phần tiếp theo!

Part 3: Elizabeth and the Silence
Phần 3: Elizabeth và Sự Im Lặng

It was remarkable that of all the busybodies and impertinent people in the parish, not one ventured to put the plain question to Mr. Hooper, wherefore he did this thing.
Thật đáng chú ý rằng trong tất cả những người tò mò và soi mói trong giáo xứ, không ai dám đặt câu hỏi thẳng thắn cho Mục sư Hooper, tại sao ông lại làm điều này.

Hitherto, whenever there appeared the slightest call for such interference, he had never lacked advisers, nor shown himself averse to be guided by their judgment.
Cho đến nay, bất cứ khi nào có dấu hiệu nhỏ nhất cần có sự can thiệp như vậy, ông chưa bao giờ thiếu người tư vấn, cũng không tỏ ra không muốn được dẫn dắt bởi phán đoán của họ.

If he erred at all, it was by so painful a degree of self-distrust, that even the mildest censure would lead him to consider an indifferent action as a crime.
Nếu ông có sai lầm gì, thì đó là vì sự tự nghi ngờ bản thân đến mức đau đớn, đến nỗi ngay cả lời chỉ trích nhẹ nhàng nhất cũng khiến ông coi một hành động thờ ơ là tội lỗi.

Yet, though so well acquainted with this amiable weakness, no individual among his parishioners chose to make the black veil a subject of friendly remonstrance.
Thế nhưng, dù rất quen thuộc với điểm yếu đáng mến này, không ai trong số giáo dân của ông chọn cách biến tấm mạng đen thành chủ đề của sự phản đối thân thiện.

There was a feeling of dread, neither plainly confessed nor carefully concealed, which caused each to shift the responsibility upon another, till at length it was found expedient to send a deputation of the church, in order to deal with Mr. Hooper about the mystery, before it should grow into a scandal.
Có một cảm giác sợ hãi, không được thừa nhận thẳng thắn cũng không được che giấu cẩn thận, khiến mỗi người đẩy trách nhiệm sang người khác, cho đến khi cuối cùng người ta thấy hợp lý khi cử một phái đoàn của nhà thờ để giải quyết với Mục sư Hooper về bí ẩn này, trước khi nó trở thành tai tiếng.

Never did an embassy so ill discharge its duties.
Chưa bao giờ một phái đoàn lại thực hiện nhiệm vụ của mình tệ đến vậy.

The minister received them with friendly courtesy, but remained silent, after they were seated, leaving to his visitors the whole burden of introducing their important business.
Vị mục sư tiếp đón họ với sự lịch thiệp thân thiện, nhưng im lặng sau khi họ ngồi xuống, để lại cho khách của mình toàn bộ gánh nặng giới thiệu công việc quan trọng của họ.

The topic, it might be supposed, was obvious enough.
Chủ đề, người ta có thể nghĩ, là rõ ràng đủ.

There was the black veil swathed round Mr. Hooper’s forehead, and concealing every feature above his placid mouth, on which, at times, they could perceive the glimmering of a melancholy smile.
Tấm mạng đen quấn quanh trán Mục sư Hooper, che khuất mọi nét trên khuôn mặt phía trên miệng bình thản của ông, trên đó đôi khi họ có thể nhận ra sự lấp lánh của một nụ cười u sầu.

But that piece of crepe, to their imagination, seemed to hang down before his heart, the symbol of a fearful secret between him and them.
Nhưng mảnh vải crepe đó, trong trí tưởng tượng của họ, dường như rủ xuống trước trái tim ông, biểu tượng của một bí mật đáng sợ giữa ông và họ.

Were the veil but cast aside, they might speak freely of it, but not till then.
Nếu tấm mạng được gỡ bỏ, họ có thể nói tự do về nó, nhưng chưa phải lúc này.

Thus they sat a considerable time, speechless, confused, and shrinking uneasily from Mr. Hooper’s eye, which they felt to be fixed upon them with an invisible glance.
Vì vậy, họ ngồi một khoảng thời gian đáng kể, câm lặng, bối rối và co rúm một cách khó chịu trước ánh mắt của Mục sư Hooper, mà họ cảm thấy đang nhìn chằm chằm vào họ bằng một cái nhìn vô hình.

Finally, the deputies returned abashed to their constituents, pronouncing the matter too weighty to be handled, except by a council of the churches, if, indeed, it might not require a general synod.
Cuối cùng, các phái viên trở về với những người ủy thác trong xấu hổ, tuyên bố vấn đề quá nặng nề để xử lý, trừ phi có một hội đồng các nhà thờ, nếu quả thực nó không cần đến một hội nghị chung.

But there was one person in the village unappalled by the awe with which the black veil had impressed all besides herself.
Nhưng có một người trong làng không hề bị khuất phục bởi nỗi kính sợ mà tấm mạng đen đã gây ra cho tất cả những người khác ngoài cô.

When the deputies returned without an explanation, or even venturing to demand one, she, with the calm energy of her character, determined to chase away the strange cloud that appeared to be settling round Mr. Hooper, every moment more darkly than before.
Khi các phái viên trở về mà không có lời giải thích, thậm chí không dám đòi hỏi một lời giải thích, cô, với sự bình tĩnh của tính cách, quyết tâm xua đi đám mây kỳ lạ dường như đang bao phủ lấy Mục sư Hooper, mỗi lúc một tối tăm hơn trước.

As his plighted wife, it should be her privilege to know what the black veil concealed.
Là người hôn thê đã đính ước của ông, đó phải là đặc quyền của cô để biết tấm mạng đen che giấu điều gì.

At the minister’s first visit, therefore, she entered upon the subject with a direct simplicity, which made the task easier both for him and her, After he had seated himself, she fixed her eyes steadfastly upon the veil, but could discern nothing of the dreadful gloom that had so overawed the multitude; it was but a double fold of crepe, hanging down from his forehead to his mouth, and slightly stirring with his breath.
Vì vậy, trong lần thăm đầu tiên của vị mục sư, cô bước vào chủ đề với sự thẳng thắn trực tiếp, điều này khiến công việc trở nên dễ dàng hơn cho cả hai. Sau khi ông ngồi xuống, cô nhìn chằm chằm vào tấm mạng, nhưng không nhận ra gì trong bóng tối đáng sợ đã áp đảo đám đông; đó chỉ là hai lớp vải crepe gấp lại, rủ từ trán xuống miệng ông, và khẽ lay động theo hơi thở của ông.

“No,” said she aloud, and smiling, “there is nothing terrible in this piece of crepe, except that it hides a face which I am always glad to look upon. Come, good sir, let the sun shine from behind the cloud. First lay aside your black veil; then tell me why you put it on.”
“Không,” cô nói to, miệng mỉm cười, “không có gì đáng sợ trong mảnh vải crepe này, ngoại trừ việc nó che giấu một khuôn mặt mà tôi luôn vui khi được nhìn thấy. Nào, thưa ông, hãy để ánh nắng chiếu ra từ sau đám mây. Trước tiên hãy gỡ bỏ tấm mạng đen của ông; sau đó hãy kể cho tôi nghe tại sao ông đeo nó.”

Mr. Hooper’s smile glimmered faintly.
Nụ cười của Mục sư Hooper le lói yếu ớt.

“There is an hour to come,” said he, “when all of us shall cast aside our veils. Take it not amiss, beloved friend, if I wear this piece of crepe till then.”
“Sẽ đến một giờ,” ông nói, “khi tất cả chúng ta sẽ gỡ bỏ tấm mạng của mình. Xin đừng trách tôi, người bạn thân mến, nếu tôi mang mảnh vải crepe này cho đến lúc đó.”

“Your words are a mystery, too,” returned the young lady. “Take away the veil from them, at least.”
“Lời nói của ông cũng là một bí ẩn,” người thiếu nữ đáp. “Ít nhất hãy gỡ bỏ tấm mạng khỏi chúng.”

“Elizabeth, I will,” said he, “so far as my vow may suffer me. Know, then, this veil is a type and a symbol, and I am bound to wear it ever, both in light and darkness, in solitude and before the gaze of multitudes, and as with strangers, so with my familiar friends. No mortal eye will see it withdrawn. This dismal shade must separate me from the world; even you, Elizabeth, can never come behind it!”
“Elizabeth, tôi sẽ làm vậy,” ông nói, “đến mức lời thề của tôi cho phép. Hãy biết rằng tấm mạng này là một kiểu và một biểu tượng, và tôi buộc phải đeo nó mãi mãi, cả trong ánh sáng lẫn bóng tối, trong cô đơn lẫn trước ánh mắt của đám đông, và như với người lạ, cũng như với những người bạn thân của tôi. Không có mắt phàm nào sẽ thấy nó được gỡ xuống. Bóng tối ảm đạm này phải ngăn cách tôi với thế giới; ngay cả em, Elizabeth, cũng không bao giờ có thể đến sau nó!”

“What grievous affliction hath befallen you,” she earnestly inquired, “that you should thus darken your eyes forever?”
“Nỗi đau khổ nào đã xảy đến với ông,” cô hỏi tha thiết, “đến nỗi ông phải che tối đôi mắt mình mãi mãi như vậy?”

“If it be a sign of mourning,” replied Mr. Hooper, “I, perhaps, like most other mortals, have sorrows dark enough to be typified by a black veil.”
“Nếu đó là dấu hiệu của tang thương,” Mục sư Hooper đáp, “thì tôi, có lẽ, như hầu hết những người phàm khác, có những nỗi đau đủ tối tăm để được tượng trưng bằng một tấm mạng đen.”

“But what if the world will not believe that it is the type of an innocent sorrow?” urged Elizabeth. “Beloved and respected: as you are, there may be whispers that you hide your face under the consciousness of secret sin. For the sake of your holy office, do away this scandal!”
“Nhưng nếu thế giới không tin rằng đó là biểu tượng của một nỗi đau vô tội thì sao?” Elizabeth thúc giục. “Dù được yêu mến và kính trọng như ông, có thể có những lời thì thầm rằng ông che giấu khuôn mặt vì ý thức về tội lỗi bí mật. Vì danh dự của chức vụ thiêng liêng của ông, hãy bỏ đi điều tai tiếng này!”

The color rose into her cheeks as she intimated the nature of the rumors that were already abroad in the village.
Má cô đỏ lên khi cô ám chỉ bản chất của những tin đồn đã lan rộng trong làng.

But Mr. Hooper’s mildness did not forsake him. He even smiled again–that same sad smile, which always appeared like a faint glimmering of light, proceeding from the obscurity beneath the veil.
Nhưng sự ôn hòa của Mục sư Hooper không rời bỏ ông. Ông thậm chí lại mỉm cười — nụ cười buồn đó, luôn xuất hiện như một tia sáng mờ nhạt, thoát ra từ bóng tối bên dưới tấm mạng.

“If I hide my face for sorrow, there is cause enough;” he merely replied; “and if I cover it for secret sin, what mortal might not do the same?”
“Nếu tôi che mặt vì nỗi buồn, thì có đủ lý do;” ông chỉ đáp lại; “và nếu tôi che nó vì tội lỗi bí mật, thì người phàm nào lại không làm điều tương tự?”

And with this gentle, but unconquerable obstinacy did he resist her entreaties.
Và với sự ngoan cố nhẹ nhàng nhưng không thể khuất phục đó, ông đã cưỡng lại những lời van nài của cô.

At length Elizabeth sat silent.
Cuối cùng Elizabeth ngồi im lặng.

For a few momeets she appeared lost in thought, considering, probably, what new methods might be tried to withdraw her foyer from so dark a fantasy, which, if it had no other meaning, was perhaps a symptom of mental disease.
Trong vài khoảnh khắc, cô dường như chìm đắm trong suy nghĩ, có lẽ đang cân nhắc những phương pháp mới nào có thể được thử để đưa người yêu của mình ra khỏi ảo tưởng tối tăm đến vậy, thứ nếu không có ý nghĩa nào khác, có lẽ là triệu chứng của bệnh tâm thần.

Though of a firmer character than his own, the tears rolled down her cheeks.
Dù có tính cách kiên quyết hơn ông, những giọt nước mắt vẫn lăn xuống má cô.

But, in an instant, as it were, a new feeling took the place of sorrow; her eyes were fixed insensibly on the black veil, when, like a sudden twilight in the air, its terrors: fell around her.
Nhưng, trong một khoảnh khắc, một cảm giác mới thay thế nỗi đau; mắt cô vô thức nhìn chằm chằm vào tấm mạng đen, khi đó, như một buổi hoàng hôn đột ngột trong không trung, nỗi kinh hoàng của nó bao quanh cô.

She arose, and stood trembling before him.
Cô đứng dậy, run rẩy đứng trước ông.

“And do you feel it then, at last?” said he, mournfully.
“Và cuối cùng em cũng cảm nhận được nó rồi phải không?” ông nói trong đau buồn.

She made no reply, but covered her eyes with her hand, and turned to leave the room.
Cô không đáp, nhưng che mắt bằng bàn tay và quay người bước ra khỏi phòng.

He rushed forward and caught her arm.
Ông lao về phía trước và nắm lấy cánh tay cô.

“Have patience with me, Elizabeth!” cried he, passionately. “Do not desert me, though this veil must be between us here on earth. Be mine, and hereafter there shall be no veil over my face, no darkness between our souls! It is but a mortal veil–it is not for eternity! O! you know not how lonely I am, and how frightened, to be alone behind my black veil. Do not leave me in this miserable obscurity forever!”
“Hãy kiên nhẫn với anh, Elizabeth!” ông kêu lên đầy xúc cảm. “Đừng bỏ rơi anh, dù tấm mạng này phải ở giữa chúng ta nơi trần thế. Hãy là của anh, và sau này sẽ không có tấm mạng nào trên khuôn mặt anh, không có bóng tối nào giữa linh hồn chúng ta! Đây chỉ là tấm mạng của người phàm — không phải cho cõi vĩnh hằng! Ôi! Em không biết anh cô đơn và sợ hãi đến mức nào khi một mình sau tấm mạng đen này. Đừng để anh trong bóng tối khốn khổ này mãi mãi!”

“Lift the veil but once, and look me in the face,” said she.
“Hãy nhấc tấm mạng lên một lần thôi, và nhìn vào mặt em,” cô nói.

“Never! It cannot be!” replied Mr. Hooper.
“Không bao giờ! Không thể được!” Mục sư Hooper đáp.

“Then farewell!” said Elizabeth.
“Thế thì vĩnh biệt!” Elizabeth nói.

She withdrew her arm from his grasp, and slowly departed, pausing at the door, to give one long shuddering gaze, that seemed almost to penetrate the mystery of the black veil.
Cô rút tay khỏi tay ông và chậm rãi rời đi, dừng lại ở cửa để có một cái nhìn dài rùng mình, dường như gần như xuyên thấu bí ẩn của tấm mạng đen.

But, even amid his grief, Mr. Hooper smiled to think that only a material emblem had separated him from happiness, though the horrors which it shadowed forth must be drawn darkly between the fondest of lovers.
Nhưng, ngay cả trong nỗi đau, Mục sư Hooper mỉm cười khi nghĩ rằng chỉ có một biểu tượng vật chất đã ngăn cách ông với hạnh phúc, dù những nỗi kinh hoàng mà nó báo trước phải được vạch ra u tối giữa đôi tình nhân thắm thiết nhất.

End of Part 3 — Stay tuned for the next episode! / Kết thúc Phần 3 — Hãy đón đọc phần tiếp theo!

Final Part: Father Hooper’s Last Words
Phần Cuối: Lời Cuối Của Cha Hooper

From that time no attempts were made to remove Mr. Hooper’s black veil, or, by a direct appeal, to discover the secret which it was supposed to hide.
Từ đó không có nỗ lực nào được thực hiện để gỡ bỏ tấm mạng đen của Mục sư Hooper, hay bằng một lời thỉnh cầu trực tiếp để khám phá bí mật mà nó được cho là che giấu.

By persons who claimed a superiority to popular prejudice, it was reckoned more an eccentric whim, such as often mingles with the sober actions of men otherwise rational, and tinges them all with its own semblance of insanity.
Những người tự cho mình vượt trên thành kiến thông thường coi đó là một thói kỳ quặc, thứ thường xen vào những hành động điềm tĩnh của những người đàn ông nếu không thì khá lý trí, và nhuộm màu tất cả chúng bằng vẻ điên loạn của chính nó.

But with the multitude, good Mr. Hooper was irreparably a bugbear.
Nhưng đối với đám đông, Mục sư Hooper tốt bụng đã không thể cứu vãn trở thành một nỗi kinh hãi.

He could not walk the street with any peace of mind, so conscious was he that the gentle and timid would turn aside to avoid him, and that others would make it a point of hardihood to throw themselves in his way.
Ông không thể đi bộ trên phố với bình an trong tâm, vì ông quá ý thức rằng những người hiền lành và rụt rè sẽ tránh sang một bên, và những người khác sẽ cố tình xông vào đường đi của ông như một thử thách.

The impertinence of the latter class compelled him to give up his customary walk at sunset to the burial ground; for when he leaned pensively over the gate, there would always be faces behind the gravestones, peeping at his black veil.
Sự hỗn xược của nhóm sau buộc ông phải từ bỏ thói quen đi dạo lúc hoàng hôn đến nghĩa địa; vì khi ông đứng trầm tư tựa vào cổng, luôn có những khuôn mặt ẩn sau bia mộ nhìn trộm vào tấm mạng đen của ông.

A fable went the rounds that the stare of the dead people drove him thence.
Một câu chuyện lưu truyền rằng ánh nhìn của người chết đã xua đuổi ông khỏi nơi đó.

It grieved him, to the very depth of his kind heart, to observe how the children fled from his approach, breaking up their merriest sports, while his melancholy figure was yet afar off.
Ông đau lòng đến tận đáy trái tim nhân hậu khi nhìn thấy những đứa trẻ bỏ chạy khi ông đến gần, bỏ dở những trò chơi vui nhộn nhất, trong khi bóng dáng u buồn của ông còn ở đằng xa.

Their instinctive dread caused him to feel more strongly than aught else that a preternatural horror was interwoven with the threads of the black crape.
Nỗi sợ hãi bản năng của chúng khiến ông cảm nhận mạnh mẽ hơn bất cứ điều gì khác rằng một nỗi kinh hoàng siêu nhiên đã được đan xen vào những sợi vải crepe đen.

In truth, his own antipathy to the veil was known to be l so great, that he never willingly passed before a mirror, nor stooped to drink at a still fountain, lest, in its peaceful bosom, he should be affrighted by himself.
Thực ra, sự ghê sợ của chính ông đối với tấm mạng được biết là rất lớn, đến nỗi ông không bao giờ tự nguyện đi ngang qua gương, cũng không cúi xuống uống nước ở một suối yên tĩnh, sợ rằng trong lòng suối bình yên, ông sẽ bị chính mình làm cho hoảng sợ.

This was what gave plausibility to the whispers, that Mr. Hooper’s conscience tortured him for some great crime too horrible to be entirely concealed, or. otherwise than so obscurely intimated.
Đây là điều khiến những lời thì thầm có vẻ đáng tin, rằng lương tâm của Mục sư Hooper đang hành hạ ông vì một tội ác lớn quá khủng khiếp để che giấu hoàn toàn, hoặc chỉ được ám chỉ một cách mơ hồ như vậy.

Thus, from beneath the black veil, there rolled a cloud into the sunshine, an ambiguity of sin or sorrow, which enveloped the poor minister, so that love or sympathy could never reach him.
Vì vậy, từ bên dưới tấm mạng đen, một đám mây cuộn vào ánh nắng, một sự mơ hồ giữa tội lỗi hay nỗi đau, bao phủ lấy vị mục sư tội nghiệp, đến nỗi tình yêu hay sự đồng cảm không bao giờ có thể chạm đến ông.

It was said that ghost and fiend consorted with him there.
Người ta nói rằng ma quỷ và ác thần đã đồng hành cùng ông ở đó.

With self-shudderings and outward terrors, he walked continually in its shadow, groping darkly within his own soul, or gazing through a medium that saddened the whole world.
Với những cơn rùng mình nội tâm và nỗi kinh hoàng bên ngoài, ông liên tục bước trong bóng tối của nó, dò dẫm trong tối tăm bên trong linh hồn mình, hay nhìn qua một môi trường làm u buồn cả thế giới.

Even the lawless wind, it was believed, respected his dreadful secret, and never blew aside the veil.
Ngay cả làn gió phóng túng, người ta tin rằng, cũng tôn trọng bí mật đáng sợ của ông và không bao giờ thổi tấm mạng sang một bên.

But still good Mr. Hooper sadly smiled at the pale visages of the worldly throng as he passed by.
Nhưng Mục sư Hooper tốt bụng vẫn mỉm cười buồn bã trước những khuôn mặt tái nhợt của đám đông trần tục khi ông đi qua.

Among all its bad influences, the black veil had the one desirable effect, of making its wearer a very efficient clergyman.
Trong tất cả những ảnh hưởng xấu của nó, tấm mạng đen có một tác dụng đáng mong muốn duy nhất, là biến người đeo nó thành một giáo sĩ rất hiệu quả.

By the aid of his mysterious emblem–for there was no other apparent cause–he became a man of awful power over souls that were in agony of sin.
Với sự trợ giúp của biểu tượng bí ẩn của mình — vì không có nguyên nhân rõ ràng nào khác — ông trở thành người có quyền năng đáng sợ đối với những linh hồn đang đau khổ trong tội lỗi.

His converts always regarded him with a dread peculiar to themselves, affirming, though but figuratively, that, before he brought them to celestial light, they had been with him behind the black veil.
Những người ông cải đạo luôn nhìn ông với một nỗi sợ hãi đặc biệt của riêng họ, khẳng định, dù chỉ theo nghĩa bóng, rằng trước khi ông đưa họ đến ánh sáng thiên đường, họ đã ở cùng ông sau tấm mạng đen.

Its gloom, indeed, enabled him to sympathize with all dark affections.
Bóng tối của nó, thực vậy, cho phép ông thấu cảm với tất cả những cảm xúc u tối.

Dying sinners cried aloud for Mr. Hooper, and would not yield their breath till he appeared; though ever, as he stooped to whisper consolation, they shuddered at the veiled face so near their own.
Những kẻ tội lỗi hấp hối kêu to tên Mục sư Hooper và không chịu trút hơi thở cuối cho đến khi ông xuất hiện; dù vậy, khi ông cúi xuống thì thầm lời an ủi, họ vẫn rùng mình trước khuôn mặt có tấm mạng gần khuôn mặt mình đến vậy.

Such were the terrors of the black veil, even when Death had bared his visage!
Đó là những nỗi kinh hoàng của tấm mạng đen, ngay cả khi Cái Chết đã lộ khuôn mặt của mình!

Strangers came long distances to attend service at his church, with the mere idle purpose of gazing at his figure, because it was forbidden them to behold his face.
Người lạ đến từ những nơi xa xôi để dự lễ tại nhà thờ của ông, với mục đích rảnh rỗi đơn giản là nhìn ngắm bóng dáng của ông, vì họ bị ngăn cản không được nhìn khuôn mặt ông.

But many were made to quake ere they departed!
Nhưng nhiều người đã phải run rẩy trước khi rời đi!

Once, during Governor Belcher’s administration, Mr. Hooper was appointed to preach the election sermon.
Một lần, trong nhiệm kỳ của Thống đốc Belcher, Mục sư Hooper được chỉ định giảng bài giảng bầu cử.

Covered with his black veil, he stood before the chief magistrate, the council, and the representatives, and wrought so deep an impression, that the legislative measures of that year were characterized by all the gloom and piety of our earliest ancestral sway.
Được che bởi tấm mạng đen, ông đứng trước quan tòa cao nhất, hội đồng và các đại diện, và tạo ra ấn tượng sâu sắc đến mức các biện pháp lập pháp của năm đó được đặc trưng bởi toàn bộ vẻ u ám và lòng mộ đạo của thời cai trị tổ tiên xa xưa nhất của chúng ta.

In this manner Mr. Hooper spent a long life, irreproachable in outward act, yet shrouded in dismal suspicions; kind and loving, though unloved, and dimly feared; a man apart from men, shunned in their health and joy, but ever summoned to their aid in mortal anguish.
Theo cách đó, Mục sư Hooper sống một cuộc đời dài, không chê trách được về mặt hành động bên ngoài, nhưng bị bao phủ bởi những nghi ngờ ảm đạm; tử tế và yêu thương, dù không được yêu và bị sợ hãi một cách mơ hồ; một người tách biệt với người khác, bị lánh xa trong lúc họ khỏe mạnh và vui vẻ, nhưng luôn được gọi đến để giúp đỡ trong nỗi đau khổ tột cùng.

As years wore on, shedding their snows above his sable veil, he acquired a name throughout the New England churches, and they called him Father Hooper.
Khi năm tháng trôi qua, phủ tuyết lên tấm mạng đen của ông, ông có được danh tiếng khắp các nhà thờ ở New England, và họ gọi ông là Cha Hooper.

Nearly all his parishioners, who were of mature age when he was settled, had been borne away by many a funeral; he had one congregation in the church, and a more crowded one in the churchyard; and having wrought so late into the evening, and done his work so well, it was now good Father Hooper’s turn to rest.
Gần như tất cả giáo dân của ông, những người đã ở tuổi trưởng thành khi ông đến nhậm chức, đã được đưa đi qua nhiều đám tang; ông có một giáo đoàn trong nhà thờ và một giáo đoàn đông đúc hơn trong nghĩa địa; và đã làm việc muộn đến tối như vậy, và đã làm công việc của mình tốt đến vậy, giờ đây đã đến lúc Cha Hooper tốt bụng được nghỉ ngơi.

Several persons were visible by the shaded candlelight, in the death chamber of the old clergyman.
Một vài người hiện diện dưới ánh nến che khuất trong phòng hấp hối của vị giáo sĩ già.

Natural connections he had none.
Ông không có người thân ruột thịt nào.

But there was the decorously grave, though unmoved physician, seeking only to mitigate the last pangs of the patient whom he could not save.
Nhưng có thầy thuốc nghiêm trang đúng mực nhưng không bị xúc động, chỉ tìm cách giảm nhẹ những cơn đau cuối cùng của bệnh nhân mà ông không thể cứu.

There were the deacons, and other eminently pious members of his church.
Có các chấp sự và những thành viên sùng đạo nổi bật khác trong nhà thờ của ông.

There, also, was the Reverend Mr. Clark, of Westbury, a young and zealous divine, who had ridden in haste to pray by the bedside of the expiring minister.
Ở đó cũng có Mục sư Clark ở Westbury, một giáo sĩ trẻ và nhiệt thành, người đã phi ngựa vội vàng đến để cầu nguyện bên giường của vị mục sư đang hấp hối.

There was the nurse, no hired handmaiden of death, but one whose calm affection had endured thus long in secrecy, in solitude, amid the chill of age, and would not perish, even at the dying hour.
Có người y tá, không phải kẻ giúp việc được thuê của cái chết, mà là người mà tình cảm bình thản đã bền bỉ trong bí mật, trong cô đơn, giữa cái lạnh của tuổi già, và sẽ không tàn lụi ngay cả trong giờ phút cuối.

Who, but Elizabeth!
Ai khác ngoài Elizabeth!

And there lay the hoary head of good Father Hooper upon the death pillow, with the black veil still swathed about his brow, and reaching down over his face, so that each more difficult gasp of his faint breath caused it to stir.
Và ở đó, đầu tóc bạc trắng của Cha Hooper tốt bụng nằm trên gối chết, tấm mạng đen vẫn quấn quanh trán, rủ xuống che khuôn mặt, đến nỗi mỗi hơi thở ngày càng khó khăn của ông lại làm nó lay động.

All through life that piece of crepe had hung between him and the world; it had separated him from cheerful brotherhood and woman’s love, arid kept him in that saddest of all prisons, his own heart; and still it lay upon his face, as if to deepen the gloom of his darksome chamber, and shade him from the sunshine of eternity.
Suốt cuộc đời, mảnh vải crepe đó đã treo giữa ông và thế giới; nó đã ngăn cách ông khỏi tình huynh đệ vui vẻ và tình yêu của người phụ nữ, và giữ ông trong nhà tù buồn nhất trong tất cả, chính trái tim ông; và nó vẫn nằm trên khuôn mặt ông, như thể để làm sâu thêm bóng tối của căn phòng tối tăm của ông, và che ông khỏi ánh nắng của cõi vĩnh hằng.

For some time previous, his mind had been confused, wavering doubtfully between the past and the present, and hovering forward, as it were, at intervals, into the indistinctness of the world to come.
Trong một thời gian trước đó, tâm trí ông bị lẫn lộn, do dự giữa quá khứ và hiện tại, và đôi khi lướt về phía trước vào sự mờ nhạt của thế giới sắp đến.

There had been feverish turns, which tossed him from side to side, and wore away what little strength he had.
Có những cơn sốt lật ông từ bên này sang bên kia và bào mòn chút sức lực còn lại của ông.

But in his most convulsive struggles, and in the wildest vagaries of his intellect, when no other thought retained its sober influence, he still showed an awful solicitude lest the black veil should slip aside.
Nhưng trong những cơn vật lộn co giật nhất, và trong những lúc trí tuệ ông hoang loạn nhất, khi không còn suy nghĩ nào khác giữ được ảnh hưởng tỉnh táo của nó, ông vẫn bày tỏ một sự lo lắng đáng sợ sợ rằng tấm mạng đen sẽ tuột sang một bên.

Even if his bewildered soul could have forgotten, there was a faithful woman at his pillow, who, with averted eyes, would have covered that aged face, which she had last beheld in the comeliness of manhood.
Ngay cả nếu linh hồn mê loạn của ông có thể quên đi, vẫn có một người phụ nữ trung thành bên gối ông, người mà với đôi mắt quay đi, sẽ che lại khuôn mặt già nua đó, khuôn mặt mà cô đã nhìn thấy lần cuối trong vẻ đẹp tuấn tú của tuổi tráng niên.

At length the deathstricken old man lay quietly in the torpor of mental and bodily exhaustion, with an imperceptible pulse, and breath that grew fainter and fainter, except when a long, deep, and irregular inspiration seemed to prelude the flight of his spirit.
Cuối cùng người đàn ông già bị cái chết đánh gục nằm yên lặng trong sự mê man của kiệt sức cả tâm trí lẫn thể xác, với mạch đập không thể cảm nhận được, và hơi thở ngày càng yếu dần, ngoại trừ khi một hơi thở dài, sâu và bất thường dường như là khúc dạo đầu cho sự bay đi của linh hồn ông.

The minister of Westbury approached the bedside.
Vị mục sư ở Westbury tiến đến bên giường.

“Venerable Father Hooper,” said he, “the moment of your release is at hand. Are you ready for the lifting of the veil that shuts in time from eternity?” Father Hooper at first replied merely by a feeble motion of his head; then, apprehensive, perhaps, that his meaning might be doubtful, he exerted himself to speak.
“Cha Hooper đáng kính,” ông nói, “khoảnh khắc giải thoát của cha đã đến gần. Cha đã sẵn sàng cho việc nhấc tấm mạng ngăn cách thời gian với cõi vĩnh hằng chưa?” Cha Hooper lúc đầu chỉ đáp bằng một cái gật đầu yếu ớt; sau đó, có lẽ lo ngại rằng ý của mình có thể bị hiểu nhầm, ông cố gắng lên tiếng.

“Yea,” said he, in faint accents, “my soul hath a patient weariness until that veil be lifted.”
“Vâng,” ông nói trong những âm thanh yếu ớt, “linh hồn tôi đang kiên nhẫn mỏi mệt chờ đến khi tấm mạng đó được nhấc lên.”

“And is it fitting,” resumed the Reverend Mr. Clark, “that a man so given to prayer, of such a blameless example, holy in deed and thought, so far as mortal judgment may pronounce; is it fitting that a father in the church should leave a shadow on his memory, that may seem to blacken a life so pure? I pray you, my venerable brother, let not this thing be! Suffer us to be gladdened by your triumphant aspect as you go to your reward. Before the veil of eternity be lifted, let me cast aside this black veil from your face!”
“Và liệu có phải đạo,” Mục sư Clark tiếp tục, “khi một người chuyên cần cầu nguyện như vậy, có tấm gương không chê trách được, thánh thiện trong việc làm và suy nghĩ, theo như phán xét của người phàm; liệu có phải đạo khi một cha của nhà thờ để lại một bóng tối trên ký ức của mình, thứ có thể làm đen tối một cuộc đời thuần khiết như vậy? Tôi xin cầu nguyện, người anh em đáng kính của tôi, đừng để điều này xảy ra! Hãy để chúng tôi được vui mừng với vẻ khải hoàn của cha khi cha về nhận phần thưởng. Trước khi tấm mạng của cõi vĩnh hằng được nhấc lên, hãy để tôi gạt bỏ tấm mạng đen này khỏi khuôn mặt cha!”

And thus speaking the Reverend Mr. Clark bent forward to reveal the mystery of so many years.
Và nói như vậy, Mục sư Clark cúi người về phía trước để hé lộ bí ẩn của bao nhiêu năm qua.

But, exerting a sudden energy, that made all the beholders stand aghast, Father Hooper snatched both his hands from beneath the bedclothes, and pressed them strongly on the black veil, resolute to struggle, if the minister of Westbury would contend with a dying man.
Nhưng với một sức mạnh đột ngột khiến tất cả những người có mặt đứng sửng sờ, Cha Hooper giật cả hai bàn tay từ dưới chăn ra và ấn mạnh lên tấm mạng đen, quyết tâm đấu tranh nếu vị mục sư ở Westbury muốn tranh giành với một người hấp hối.

“Never!” cried the veiled clergyman. “On earth, never!”
“Không bao giờ!” vị giáo sĩ có tấm mạng kêu lên. “Trên trái đất này, không bao giờ!”

“Dark old men!” exclaimed the affrighted minister, “with what horrible crime upon your soul are you now passing to the judgment?”
“Ông già tăm tối!” vị mục sư hoảng sợ thốt lên, “với tội ác khủng khiếp nào trong linh hồn mà ông đang ra đi trước sự phán xét?”

Father Hooper’s breath heaved; it rattled in his throat; but, with a mighty effort, grasping forward with his hands, he caught hold of life, and held it back till he should speak, He even raised himself in bed; and there he sat, shivering with the arms of death around him, while the black veil hung down, awful, at that last moment, in the gathered terrors of a lifetime.
Hơi thở Cha Hooper trở nên nặng nhọc; nó khèo khẹo trong cổ họng ông; nhưng với nỗ lực lớn lao, với bàn tay đưa ra phía trước, ông nắm lấy sự sống và giữ nó lại cho đến khi ông có thể nói. Ông thậm chí ngồi dậy trên giường; và ở đó ông ngồi, run rẩy với những vòng tay của cái chết quanh mình, trong khi tấm mạng đen rủ xuống, đáng sợ, trong khoảnh khắc cuối cùng đó, trong nỗi kinh hoàng tích lũy của cả một đời người.

And yet the faint, sad smile, so often there, now seemed to glimmer from its obscurity, and linger on Father Hooper’s lips.
Và thế nhưng nụ cười yếu ớt, buồn bã, thường xuất hiện ở đó, giờ đây dường như le lói từ trong bóng tối và đọng lại trên môi Cha Hooper.

“Why do you tremble at me alone?” cried he, turning his veiled face round the circle of pale spectators. “Tremble also at each others Have men avoided me, and women shown no pity, and children screamed and fled, only for my black veil? What, but the mystery which it obscurely typifies, has made this piece of crepe so awful? When the friend shows his inmost heart to his friend; the lover to his best beloved; when man does not vainly shrink from the eye of his Creator, loathsomely treasuring up the secret of his sin; then deem me a monster, for the symbol beneath which I have lived, and die! I look around me, and, lo! on every visage a Black Veil.”
“Tại sao các ông chỉ run rẩy trước mặt tôi?” ông kêu lên, quay khuôn mặt có tấm mạng nhìn vòng quanh vòng tròn những khán giả tái nhợt. “Hãy cũng run rẩy trước mặt nhau! Có phải đàn ông đã tránh xa tôi, và phụ nữ không tỏ lòng thương xót, và trẻ em la hét và chạy trốn, chỉ vì tấm mạng đen của tôi? Điều gì, ngoài bí ẩn mà nó tượng trưng một cách mờ ám, đã làm cho mảnh vải crepe này trở nên đáng sợ đến vậy? Khi người bạn bộc lộ trái tim sâu thẳm nhất của mình với người bạn; người yêu với người được yêu nhất; khi con người không vô ích co rúm trước ánh mắt của Đấng Tạo Hóa, một cách đáng ghê tởm tích trữ bí mật tội lỗi của mình; thì hãy coi tôi là quái vật, vì biểu tượng mà dưới đó tôi đã sống và chết! Tôi nhìn quanh mình, và kìa! trên mỗi khuôn mặt đều có một Tấm Mạng Đen.”

While his auditors shrank from one another, in mutual affright, Father Hooper fell back upon his pillow, a veiled corpse, with a faint smile lingering on the lips.
Trong khi những người nghe co rúm lại xa nhau trong nỗi kinh hoàng lẫn nhau, Cha Hooper ngã xuống gối của mình, một thi thể có tấm mạng, với nụ cười mờ nhạt đọng lại trên môi.

Still veiled, they laid him in his coffin, and a veiled corpse they bore. him to the grave.
Vẫn còn tấm mạng, họ đặt ông vào quan tài, và một thi thể có tấm mạng họ đưa ông đến mộ phần.

The grass of many years has sprung up and withered on that grave, the burial stone is moss-grown, and good Mr. Hooper’s face is dust; but awful is still the thought that it moldered beneath the Black Veil!
Cỏ của nhiều năm đã mọc lên và tàn úa trên ngôi mộ đó, tấm bia mộ đã phủ rêu, và khuôn mặt Mục sư Hooper tốt bụng đã thành cát bụi; nhưng vẫn còn đó nỗi kinh hoàng khi nghĩ rằng nó đã mục nát bên dưới Tấm Mạng Đen!

The End / Kết Thúc

Special Topic: The Veil We All Wear
Bình Luận: Tấm Mạng Mà Tất Cả Chúng Ta Đều Đeo

“The Minister’s Black Veil” is one of the most quietly disturbing stories in American literature — not because of anything supernatural that happens in it, but because of what it refuses to explain.
“Tấm Mạng Đen Của Mục Sư” là một trong những câu chuyện gây bất an lặng lẽ nhất trong văn học Mỹ — không phải vì bất cứ điều gì siêu nhiên xảy ra trong đó, mà vì những gì nó từ chối giải thích.

Hawthorne never tells us why Mr. Hooper puts on the veil.
Hawthorne không bao giờ cho chúng ta biết tại sao Mục sư Hooper đeo tấm mạng.

He never tells us what sin, if any, it conceals.
Ông không bao giờ cho chúng ta biết tội lỗi gì, nếu có, mà nó che giấu.

And this silence is not an oversight — it is the entire point.
Và sự im lặng này không phải là một sơ suất — đó chính là toàn bộ ý nghĩa.

The veil works precisely because it is ambiguous.
Tấm mạng có tác dụng chính xác vì nó mơ hồ.

It could be mourning, penance, a symbol of universal human sinfulness, or simply the act of a man who has looked too long into the hidden darkness of other people’s hearts and decided to make that darkness visible on his own face.
Nó có thể là tang thương, sám hối, biểu tượng của tội lỗi phổ quát của con người, hoặc đơn giản là hành động của một người đàn ông đã nhìn quá lâu vào bóng tối ẩn giấu trong trái tim người khác và quyết định làm cho bóng tối đó hiện ra trên khuôn mặt của chính mình.

What makes the story so powerful is its diagnosis of how communities respond to honesty about human darkness.
Điều làm cho câu chuyện trở nên mạnh mẽ là sự chẩn đoán của nó về cách các cộng đồng phản ứng với sự trung thực về bóng tối của con người.

Mr. Hooper does not change.
Mục sư Hooper không thay đổi.

He continues to perform every duty, preach every sermon, attend every funeral and wedding, bless every child — all exactly as before.
Ông tiếp tục thực hiện mọi nhiệm vụ, giảng mọi bài giảng, tham dự mọi đám tang và đám cưới, ban phước cho mọi đứa trẻ — tất cả đúng như trước.

The only thing that changes is the piece of fabric over his face.
Điều duy nhất thay đổi là mảnh vải trên khuôn mặt ông.

And yet this single addition transforms him, in the eyes of his congregation, from a beloved pastor into something ghostlike and monstrous.
Và thế nhưng sự bổ sung duy nhất này biến ông, trong mắt giáo đoàn của mình, từ một mục sư được yêu quý thành thứ gì đó như bóng ma và quái dị.

Hawthorne’s insight here is devastating: we do not fear the sinner — we fear the person who reminds us that we are sinners too.
Cái nhìn sâu sắc của Hawthorne ở đây thật tàn khốc: chúng ta không sợ kẻ tội lỗi — chúng ta sợ người nhắc nhở chúng ta rằng bản thân chúng ta cũng là kẻ tội lỗi.

The congregation can tolerate Mr. Hooper as a preacher of sin in the abstract.
Giáo đoàn có thể chấp nhận Mục sư Hooper như một nhà thuyết giảng về tội lỗi một cách trừu tượng.

What they cannot tolerate is the veil — because the veil makes the preaching personal, immediate, inescapable.
Điều họ không thể chấp nhận là tấm mạng — vì tấm mạng làm cho bài giảng trở nên cá nhân, trực tiếp, không thể tránh khỏi.

Every time they look at Mr. Hooper, they are looking at a mirror — and they cannot bear what they see.
Mỗi lần họ nhìn vào Mục sư Hooper, họ đang nhìn vào một tấm gương — và họ không thể chịu đựng những gì họ thấy.

The dialogue between Mr. Hooper and Elizabeth is the emotional center of the story — and the most heartbreaking scene Hawthorne ever wrote.
Cuộc đối thoại giữa Mục sư Hooper và Elizabeth là trung tâm cảm xúc của câu chuyện — và là cảnh đau lòng nhất mà Hawthorne từng viết.

Elizabeth is brave enough to ask what no one else will ask, calm enough to see the veil for what it physically is — just cloth — and loving enough to offer him a way back.
Elizabeth đủ dũng cảm để hỏi điều mà không ai khác sẽ hỏi, đủ bình tĩnh để nhìn tấm mạng như thứ nó thực sự là về mặt vật lý — chỉ là vải — và đủ yêu thương để trao cho ông một con đường trở lại.

But Mr. Hooper will not take it.
Nhưng Mục sư Hooper sẽ không nhận nó.

“No mortal eye will see it withdrawn,” he says — and we sense that behind this vow is not just principle, but terror.
“Không có mắt phàm nào sẽ thấy nó được gỡ xuống,” ông nói — và chúng ta cảm nhận rằng đằng sau lời thề này không chỉ là nguyên tắc, mà là nỗi kinh hoàng.

He confesses it himself: “You know not how lonely I am, and how frightened, to be alone behind my black veil.”
Ông tự thú nhận điều đó: “Em không biết anh cô đơn và sợ hãi đến mức nào khi một mình sau tấm mạng đen này.”

The man who chose isolation is also its prisoner.
Người đàn ông đã chọn sự cô lập cũng là tù nhân của nó.

Father Hooper’s dying speech — “I look around me, and, lo! on every visage a Black Veil” — is one of the most electrifying moments in American fiction.
Bài phát biểu lúc hấp hối của Cha Hooper — “Tôi nhìn quanh mình, và kìa! trên mỗi khuôn mặt đều có một Tấm Mạng Đen” — là một trong những khoảnh khắc gây sốc nhất trong văn học Mỹ.

It reframes the entire story in an instant: he was never the eccentric, the sinner, the madman.
Nó định hình lại toàn bộ câu chuyện trong một khoảnh khắc: ông chưa bao giờ là kẻ kỳ quặc, kẻ tội lỗi, kẻ điên.

He was the only one honest enough to make his veil visible.
Ông là người duy nhất đủ trung thực để làm cho tấm mạng của mình hiện ra.

The rest of us — congregation, village, reader — have been wearing ours all along.
Phần còn lại của chúng ta — giáo đoàn, làng mạc, người đọc — đã đeo tấm mạng của mình suốt thời gian đó.

Nearly two centuries after it was written, “The Minister’s Black Veil” still asks the same unbearable question it always has: what are you hiding — and from whom?
Gần hai thế kỷ sau khi được viết, “Tấm Mạng Đen Của Mục Sư” vẫn đặt ra câu hỏi không thể chịu đựng được như nó đã luôn hỏi: bạn đang che giấu điều gì — và với ai?

The End / Kết Thúc

The Minister’s Black Veil – Deep Learning Quiz

Mastering “The Minister’s Black Veil”

Explore secret sin, Puritan morality, and Hawthorne’s dark symbolism.

1. What is the immediate reaction of the Milford congregation when Mr. Hooper first appears with the black veil?

A. They assume he is mourning a hidden family tragedy.
✘ Incorrect. While it is a veil of mourning, the townspeople’s reaction is one of immediate perturbation and fear rather than simple sympathy.
B. They are deeply disturbed and feel he has changed into something “fearful.”
✔ Correct! The text describes how the veil makes even his most familiar parishioners feel a sense of dread and unease.
C. They believe it is a new fashion trend from the city.
✘ Incorrect. The Puritan setting and Hooper’s somber character make fashion an unlikely explanation.
D. They laugh at him, thinking it is a joke for the sermon.
✘ Incorrect. The atmosphere is solemn and fearful, not humorous.

2. How does the subject of Mr. Hooper’s first sermon after donning the veil relate to his appearance?

A. It deals with “secret sin” and the mysteries we hide from others and ourselves.
✔ Correct! The sermon’s theme perfectly matches the symbolism of the veil, making the congregation feel as if he had crept upon them.
B. It focuses on the beauty of nature and God’s light.
✘ Incorrect. This would contrast sharply with the dark, gloomy atmosphere created by the veil.
C. It is a strict lecture on the importance of financial tithing.
✘ Incorrect. Hawthorne focuses on the psychological and spiritual aspects of sin.
D. He refuses to speak and just points at the congregation.
✘ Incorrect. He delivers a sermon that is described as one of his most powerful.

3. What significant event occurs during the afternoon service that highlights the veil’s “spectral” power?

A. A bird flies into the church and dies.
✘ Incorrect. No such omen occurs in the text.
B. Mr. Hooper removes the veil for a split second.
✘ Incorrect. Mr. Hooper never removes the veil.
C. A funeral where a witness claims the corpse shuddered when Hooper leaned over.
✔ Correct! This supernatural suggestion emphasizes the veil’s connection to the world of the dead and hidden truth.
D. The church windows shatter simultaneously.
✘ Incorrect. Hawthorne’s “dark romanticism” is more subtle and psychological than physical destruction.

4. Why does Elizabeth, Mr. Hooper’s fiancée, eventually leave him?

A. He refuses to remove the veil even for her, choosing the symbol over their relationship.
✔ Correct! She asks him to put it aside just once to look her in the face, but his refusal ends their engagement.
B. She finds out he committed a terrible crime.
✘ Incorrect. The “sin” is never specified; it is the veil itself that she cannot live with.
C. She falls in love with the town physician.
✘ Incorrect. Elizabeth remains loyal to his memory and even returns to nurse him on his deathbed.
D. The town elders forbid her from marrying a “madman.”
✘ Incorrect. It was her own personal decision after he refused her request.

5. What “positive” professional effect does the veil have on Mr. Hooper’s ministry?

A. He becomes more cheerful and approachable.
✘ Incorrect. He becomes a “man of prayer” and a “gloomy” figure.
B. It makes him an extremely efficient clergyman for those in “agony of sin.”
✔ Correct! The veil creates a bridge between him and the dying or the guilt-ridden, making him a powerful soul-winner.
C. It allows him to hide his identity and travel safely.
✘ Incorrect. He stays in Milford and everyone knows exactly who he is.
D. He is promoted to Bishop because of his unique style.
✘ Incorrect. He remains a humble minister, albeit a feared and respected one.

6. How does Mr. Hooper respond when people ask him why he wears the veil?

A. He gives vague, symbolic answers about a “vow” and “moral mystery.”
✔ Correct! He never gives a concrete explanation, which fuels the town’s speculation and fear.
B. He claims it is a medical necessity for his eyes.
✘ Incorrect. He admits it is a symbol, though he won’t say of what.
C. He tells them it’s none of their business.
✘ Incorrect. He is always gentle and mild, even when refusing to answer.
D. He writes his reasons on a piece of paper but burns it.
✘ Incorrect. No such scene occurs.

7. What irony is present in the townspeople’s treatment of Mr. Hooper?

A. They hate him but continue to pay him a high salary.
✘ Incorrect. There is no mention of his salary in the story.
B. They are terrified of his veil, yet it represents the “secret sins” they all possess.
✔ Correct! The irony is that the veil only bothers them because it reminds them of their own hidden guilt.
C. They think he is blind, but he sees better than anyone else.
✘ Incorrect. While metaphorically true, the story focuses on the “unseen” nature of sin.
D. He is the only sinner in a town of saints.
✘ Incorrect. Hawthorne’s point is that everyone is a sinner.

8. On his deathbed, what does Mr. Hooper say he sees on “every visage” (every face)?

A. The light of God’s forgiveness.
✘ Incorrect. Hooper’s final vision is much darker and more critical of humanity.
B. A reflection of his own black veil.
✘ Incorrect. Not a literal reflection, but a symbolic one.
C. A Black Veil.
✔ Correct! He argues that everyone wears a veil of hypocrisy to hide their secret sins from the world.
D. Tears of genuine repentance.
✘ Incorrect. He sees the townspeople as still being “veiled” in their secrets.

9. What does the veil symbolize throughout the story?

A. The barrier of secret sin that separates individuals from each other and God.
✔ Correct! It is a physical representation of the psychological and spiritual isolation caused by sin.
B. A literal physical scar he is hiding.
✘ Incorrect. Hawthorne uses the veil as a moral allegory, not a medical cover.
C. The clergyman’s superiority over his congregation.
✘ Incorrect. If anything, the veil makes him a pariah and lower in the town’s social eyes.
D. A vow of silence.
✘ Incorrect. He continues to preach and speak throughout his life.

10. In the final scene, what happens to the veil when Mr. Hooper is buried?

A. It is removed by the town physician to satisfy curiosity.
✘ Incorrect. Despite the temptation, the veil is left in place.
B. It is burned as a cursed object.
✘ Incorrect. The Puritans respected the sanctity of the dead.
C. He is buried with the veil still covering his face.
✔ Correct! Even in death, the “moral mystery” remains, and he carries his symbol to the grave.
D. It miraculously turns white.
✘ Incorrect. Hawthorne’s endings are typically somber and realistic, not magical.

Related Posts:

  • fd02c452-778f-49f1-b565-368ce93bb9af
    The Snows of Kilimanjaro / Tuyết Trên Đỉnh…
  • fa0c0596-9819-451c-a5f8-2de8743a2353
    Young Goodman Brown by Nathaniel Hawthorne
  • 0348d67f-26a0-4b8d-aa14-1174734290a0
    An Occurrence at Owl Creek Bridge by Ambrose Bierce
  • 9ef3db3f-9cd4-483c-8952-03e0c617e077
    The Doll's House / Ngôi Nhà Búp Bê by Katherine Mansfield
  • ffda0feb-d3a9-48c4-9fc8-ac43608c43c6
    A Dark Brown Dog / Con Chó Nâu Sẫm by Stephen Crane
  • 9b53a5b8-3624-430b-94c3-e5c0cbbbd07e
    'Oh, Whistle, and I'll Come to You My Lad' / 'Ôi,…

Post navigation

← The Ass and the Grasshoppers / Con Lừa và Những Chú Châu Chấu by Aesop
The Doll’s House / Ngôi Nhà Búp Bê by Katherine Mansfield →

Leave a Reply Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Related Posts:

  • fd02c452-778f-49f1-b565-368ce93bb9af
    The Snows of Kilimanjaro / Tuyết Trên Đỉnh…
  • fa0c0596-9819-451c-a5f8-2de8743a2353
    Young Goodman Brown by Nathaniel Hawthorne
  • 0348d67f-26a0-4b8d-aa14-1174734290a0
    An Occurrence at Owl Creek Bridge by Ambrose Bierce
  • 9ef3db3f-9cd4-483c-8952-03e0c617e077
    The Doll's House / Ngôi Nhà Búp Bê by Katherine Mansfield
  • ffda0feb-d3a9-48c4-9fc8-ac43608c43c6
    A Dark Brown Dog / Con Chó Nâu Sẫm by Stephen Crane
  • 9b53a5b8-3624-430b-94c3-e5c0cbbbd07e
    'Oh, Whistle, and I'll Come to You My Lad' / 'Ôi,…
© 2026 Sophie's Garden | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme