The Last Case – Vụ Án Cuối Cùng
| Tiếng Anh (English) | Tiếng Việt (Vietnamese) |
|---|---|
| Sergeant Frank Spike sat behind his desk and stared out of the window. Outside, a steady stream of traffic passed by, each car moving slowly in the cold, grey rain. | Trung sĩ Frank Spike ngồi sau bàn làm việc và nhìn đăm đăm ra ngoài cửa sổ. Bên ngoài, dòng xe cộ nối đuôi nhau đi qua, từng chiếc xe di chuyển chậm chạp trong cơn mưa xám xịt và lạnh lẽo. |
| Frank looked down at the grey hairs on his arms, and his round stomach, which pushed against the desk. This was his final month before he retired from the police, and, for Frank, retirement couldn’t come soon enough. | Frank cúi nhìn những sợi lông đã bạc trên cánh tay và cái bụng tròn trịa đang ép sát vào cạnh bàn. Đây là tháng cuối cùng của ông trước khi rời khỏi ngành cảnh sát, và với Frank, ngày nghỉ hưu đến càng sớm càng tốt. |
| Frank frowned as he considered the terrible retirement package he had been given. It was barely enough money to take a short holiday on the cold and rainy east coast of England where he lived. There was no way he could afford the round-the-world, luxury cruise he had always dreamed of. | Frank nhíu mày khi nghĩ về khoản trợ cấp hưu trí ít ỏi mà mình nhận được. Số tiền đó chỉ vừa đủ để đi nghỉ ngắn ngày ở vùng duyên hải phía Đông nước Anh lạnh lẽo và mưa gió nơi ông sống. Chẳng đời nào ông đủ sức chi trả cho chuyến du hành xa hoa quanh thế giới mà ông hằng mơ ước. |
| Just as Frank was sighing heavily, Inspector Spencer came up to his desk, with his perfect white teeth and enthusiastic smile. Three years earlier, Spencer had been promoted. Now he had the position of inspector at the young age of forty. | Đúng lúc Frank đang thở dài thườn thượt, Thanh tra Spencer bước đến bàn ông với hàm răng trắng bóng hoàn hảo và nụ cười đầy nhiệt huyết. Ba năm trước, Spencer đã được thăng chức. Giờ đây anh ta giữ chức thanh tra ở độ tuổi bốn mươi còn khá trẻ. |
| Frank, in comparison, had worked for the police for forty years and been passed over for promotion three times. It was true he had neither the looks nor charm of Spencer but the younger man didn’t have Frank’s ‘nose for crime’. That nose meant Frank could get inside the mind of the criminal and solve the trickiest of cases. | Ngược lại, Frank đã cống hiến cho ngành bốn mươi năm và bị vuột mất cơ hội thăng tiến ba lần. Đúng là ông không có ngoại hình hay sự quyến rũ như Spencer, nhưng chàng trai trẻ đó không có “khứu giác tội phạm” của Frank. Khứu giác đó giúp Frank thâm nhập vào tâm trí kẻ phạm tội và phá những vụ án hóc búa nhất. |
| ‘Hey, Frank, do you mind if I ask your advice about something?’ Unsurprised, Frank nodded. ‘Have you heard of the Babbingtons?’ | “Này Frank, ông có phiền nếu tôi xin lời khuyên về việc này không?” Không chút ngạc nhiên, Frank gật đầu. “Ông đã nghe nói về gia đình nhà Babbington chưa?” |
| Everyone had heard of the Babbingtons. Ronald Babbington was the millionaire owner of Babbington Oil, and his wife Tabitha was a model. They often appeared in magazines like Hello!, with their gorgeous house and collection of sports cars. | Ai mà chẳng nghe danh nhà Babbington. Ronald Babbington là triệu phú sở hữu hãng dầu mỏ Babbington Oil, còn vợ ông, Tabitha, là một người mẫu. Họ thường xuyên xuất hiện trên các tạp chí như Hello! cùng ngôi biệt thự lộng lẫy và bộ sưu tập xe thể thao. |
| Most recently, they had invited the press to take photographs of the enormous diamond Ronald had bought for his bride. Under the protection of a sophisticated alarm system, the diamond sat in a large gold and glass case. | Gần đây nhất, họ còn mời báo giới đến chụp hình viên kim cương khổng lồ mà Ronald mua tặng vợ. Dưới sự bảo vệ của hệ thống báo động tinh vi, viên kim cương được đặt trong một tủ kính viền vàng lớn đặt ở cuối một dải thảm đỏ dài. |
| ‘We’ve had some secret information about a plan to steal the Babbington diamond!’ Spencer paused for dramatic effect. Frank raised his eyebrows in an attempt to look suitably impressed. | “Chúng tôi vừa nhận được tin mật về âm mưu đánh cắp viên kim cương nhà Babbington!” Spencer dừng lại tạo vẻ kịch tính. Frank nhướn mày cố tỏ ra là mình đang rất ấn tượng. |
| ‘Peggy, the owner of the Dog and Duck pub, heard a couple of local criminals talking about it. But our officers have made some discreet inquiries that seem to confirm what Peggy says.’ | “Peggy, chủ quán rượu Dog and Duck, đã nghe lỏm được vài tên tội phạm địa phương bàn tán về chuyện đó. Các sĩ quan của chúng tôi đã bí mật điều tra và có vẻ những gì Peggy nói là đúng.” |
| ‘So?’ Spencer asked. ‘What do you think is the best thing to do? After all, it’s only a rumour. We’ve got nothing concrete to arrest them on.’ | “Vậy nên?” Spencer hỏi. “Ông nghĩ cách tốt nhất là gì? Dù sao thì đây cũng mới chỉ là tin đồn. Chúng ta chưa có bằng chứng cụ thể nào để bắt giữ chúng.” |
| Frank looked thoughtfully out of the window. He remembered his retirement money. He didn’t want to be alone in his retirement, but the money wouldn’t even be enough to buy a cat to keep him company. | Frank đăm chiêu nhìn ra cửa sổ. Ông nhớ đến khoản tiền hưu trí của mình. Ông không muốn cô độc khi về hưu, nhưng số tiền đó thậm chí còn không đủ để mua nổi một con mèo làm bạn. |
| ‘Listen, do this the clever way,’ said Frank, leaning towards the younger officer. ‘What you need to do is let them commit the crime. If you catch them red-handed, you’ve got all the evidence you need, no problem.’ | “Nghe này, hãy làm việc này một cách khôn ngoan,” Frank nói, nghiêng người về phía viên sĩ quan trẻ. “Cậu cần để chúng thực hiện vụ trộm. Nếu cậu bắt quả tang, cậu sẽ có mọi bằng chứng cần thiết, chẳng có vấn đề gì cả.” |
| ‘But, Frank,’ said Spencer, ‘we’d need the approval of the Babbington family. And there are laws about tricking criminals like that, you know!’ | “Nhưng Frank,” Spencer nói, “chúng ta cần sự đồng ý của nhà Babbington. Và có những điều luật về việc gài bẫy tội phạm như thế đấy, ông biết mà!” |
| ‘That’s why you let them commit the crime. Then, apparently by chance, stop them for speeding as they escape the crime scene. You search the car to find the diamond, and you’ve caught them red-handed!’ | “Đó là lý do cậu phải để chúng hành động. Sau đó, ra vẻ như tình cờ, hãy dừng xe chúng vì lỗi quá tốc độ khi chúng đang tẩu thoát. Cậu khám xét xe, tìm thấy viên kim cương, và thế là bắt sống được chúng!” |
| Spencer was uncomfortable with the methods Frank was suggesting. But he couldn’t deny the plan would work. Frank continued, ‘Of course, you need to ensure the arresting officer is someone you know is reliable.’ | Spencer cảm thấy không thoải mái với phương pháp Frank gợi ý. Nhưng anh không thể phủ nhận kế hoạch này sẽ hiệu quả. Frank tiếp tục: “Tất nhiên, cậu cần đảm bảo sĩ quan thực hiện bắt giữ phải là người đáng tin cậy.” |
| ‘Are you sure you want to do it, Frank? It could be dangerous.’ ‘I’ll make sure I’m with a couple of tough young officers, but, yes, of course I want to do it.’ | “Ông chắc chắn muốn làm việc này chứ Frank? Có thể nguy hiểm đấy.” “Tôi sẽ đi cùng vài sĩ quan trẻ khỏe, nhưng đúng vậy, dĩ nhiên là tôi muốn làm.” |
| ‘Why?’ asked Spencer. ‘You’re just about to retire! Don’t you want to take it easy?’ ‘That’s exactly why I want to do it,’ Frank replied. ‘My last case will be my final chance for glory!’ | “Tại sao?” Spencer hỏi. “Ông sắp nghỉ hưu rồi mà! Ông không muốn an nhàn sao?” “Đó chính xác là lý do tôi muốn làm,” Frank trả lời. “Vụ án cuối cùng này sẽ là cơ hội cuối để tôi tỏa sáng!” |
| A few days later, Frank went into the Dog and Duck pub after work. ‘Did you get it?’ he asked Peggy. ‘Yes. I am now the proud owner of a perfect replica Babbington diamond,’ she said. | Vài ngày sau, Frank ghé quán rượu Dog and Duck sau giờ làm. “Em lấy được nó chưa?” ông hỏi Peggy. “Rồi. Giờ em là chủ nhân của một viên kim cương giả giống hệt nhà Babbington,” cô nói. |
| ‘I told the glassmaker I was a huge fan of the Babbingtons and that my mean boyfriend wouldn’t buy me a diamond of my own.’ | “Em bảo thợ làm kính rằng em là fan cuồng của nhà Babbington và gã bạn trai keo kiệt của em chẳng chịu mua cho em viên kim cương nào cả.” |
| ‘You need a new boyfriend,’ said Frank. ‘If I were your boyfriend, I’d buy you a diamond ring and take you on a long luxury cruise if I had the chance.’ | “Em cần một người bạn trai mới đấy,” Frank nói. “Nếu tôi là bạn trai em, tôi sẽ mua cho em nhẫn kim cương và đưa em đi du lịch xa hoa trên du thuyền nếu có cơ hội.” |
| Frank was sitting in the back seat of the police car, hidden on the road through the woods to the Babbington mansion. At 00.20, the woman reappeared at the top of the wall with an excited smile. She climbed quickly down the rope and ran back to the car. | Frank ngồi ở ghế sau xe cảnh sát, ẩn nấp trên con đường xuyên qua rừng dẫn đến biệt thự nhà Babbington. Lúc 00:20, người đàn bà xuất hiện trên đỉnh tường rào với nụ cười phấn khích. Cô ta nhanh chóng leo xuống dây thừng rồi chạy về phía xe hơi. |
| At 00.23, the thieves passed Frank’s car. The young police officer immediately switched on the flashing blue lights and followed them. Inside the car, the thieves panicked. | Lúc 00:23, những kẻ trộm đi ngang qua xe của Frank. Viên sĩ quan trẻ lập tức bật đèn xanh nhấp nháy và đuổi theo. Bên trong xe, những kẻ trộm hoảng loạn. |
| ‘Is there a problem, officer?’ the man asked, his face shiny with nervous sweat. ‘You were speeding. Can you both get out of the car, please?’ | “Có chuyện gì vậy sĩ quan?” gã đàn ông hỏi, mặt bóng nhẫy mồ hôi vì lo lắng. “Các người đã chạy quá tốc độ. Làm ơn bước ra khỏi xe.” |
| Frank began thoroughly searching the car. His hand felt something smooth, hard and cold under the front passenger car seat. The Babbington diamond! He took the diamond and put it in his jacket pocket. At the same time, with his other hand, he took a very similar object out of his trouser pocket. | Frank bắt đầu khám xét kỹ lưỡng chiếc xe. Tay ông chạm phải thứ gì đó nhẵn mịn, cứng và lạnh dưới ghế phụ phía trước. Viên kim cương nhà Babbington! Ông lấy viên kim cương bỏ vào túi áo khoác. Cùng lúc đó, tay kia ông lấy một vật tương tự từ túi quần ra. |
| ‘OK, you two!’ he said. ‘You are under arrest for robbery!’ While the young police officers arrested the criminals, Frank held the evidence up for everyone to admire. It shone rainbow colours as it caught the light from the moon. | “Được rồi, hai người!” ông nói. “Các người bị bắt vì tội trộm cắp!” Trong khi các sĩ quan trẻ còng tay tội phạm, Frank giơ tang vật lên cho mọi người chiêm ngưỡng. Nó tỏa ra sắc màu cầu vồng dưới ánh trăng. |
| Half an hour later, back at the station, he handed it over to Spencer. Spencer took it from him carefully, as if it was a newborn baby. | Nửa giờ sau, tại đồn cảnh sát, ông bàn giao nó cho Spencer. Spencer đón lấy nó một cách cẩn trọng như thể đang bế một đứa trẻ sơ sinh. |
| Five weeks later, Frank was sitting in his new luxury massage chair and drinking a glass of the finest champagne. His expensive new cat rubbed her tail around his legs. | Năm tuần sau, Frank đang ngồi trên chiếc ghế massage sang trọng mới mua và nhâm nhi ly sâm panh thượng hạng. Con mèo đắt tiền mới mua của ông đang quấn quýt cọ đuôi vào chân chủ. |
| The two burglars had got six years in prison. The accompanying photo was of the Babbingtons happily showing off the diamond inside its new, extra-thick glass case. | Hai kẻ trộm đã phải nhận án sáu năm tù. Tấm ảnh đi kèm bài báo chụp cảnh nhà Babbington đang hạnh phúc khoe viên kim cương trong tủ kính mới, dày hơn trước. |
| Only a jewellery expert would spot anything strange about the Babbington diamond. And even then, only if they saw the stone up close. | Chỉ có chuyên gia đá quý mới nhận ra điểm kỳ lạ của viên kim cương đó. Và ngay cả thế, họ cũng phải quan sát thật gần mới thấy được. |
| ‘Peggy?’ he said. ‘Would you like to go to the Bahamas or the Maldives?’ Peggy put down her own champagne glass, a small diamond ring on her finger shining in the light. ‘Why not both?’ she smiled. | “Peggy này?” ông nói. “Em muốn đi Bahamas hay Maldives?” Peggy đặt ly sâm panh xuống, chiếc nhẫn kim cương nhỏ trên ngón tay cô lấp lánh dưới ánh đèn. “Sao không đi cả hai nhỉ?” cô mỉm cười. |
| ‘I did promise you a long cruise,’ he said. ‘I’m so glad I called you first khi I heard them talking about that robbery.’ ‘Me too, Peggy,’ he said. Retirement was turning out to be a wonderful thing after all. | “Tôi đã hứa đưa em đi du thuyền một chuyến thật dài mà,” ông nói. “Em thật mừng vì đã gọi cho anh đầu tiên khi nghe bọn chúng bàn về vụ trộm đó.” “Anh cũng vậy, Peggy,” ông đáp. Hóa ra nghỉ hưu lại là một điều tuyệt vời đến thế. |
Category: Uncategorized